The Alchemist – Nhà giả kim (p19)

Anh ta đã tốn rất nhiều tiền trong gia tài cha anh để lại, tìm kiếm trong vô vọng Hòn đá của Triết gia. Anh ta đã tốn rất nhiều thời gian ở các thư viện lớn trên thế giới, và đã mua tất cả những cuốn sách khó tìm nhất và quan trọng nhất trong các tập về Thuật giả kim. Ở một trong số đó anh ta đã đọc được rằng, rất nhiều năm trước, một nhà giả kim nổi tiếng người Ả-rập đã đến thăm châu Âu. Người ta nói rằng ông ta đã hơn 200 tuổi, và ông đã tìm ra được Hòn đá của Triết gia và Thuốc Trường sinh. Anh chàng người Anh ấn tượng câu chuyện một cách sâu sắc. Nhưng anh ta đã không bao giờ nghĩ về nó hơn là một chuyện thần thoại, cho đến khi một người bạn của anh ta – trở về từ một cuộc du khảo khảo cổ học trên sa mạc, nói với anh ta về một người Ả-rập sở hữu những quyền năng đặc biệt.

“Ông ta sống ở ốc đảo Al-Fayoum”, bạn anh ta nói. “Và mọi người nói rằng ông ta đã 200 tuổi, và ông ta có khả năng chuyển bất kì kim loại nào thành vàng.”

Anh chàng người Anh không thể giấu nổi sự phấn khích. Anh ta bỏ tất cả những cam kết trước đó, và cầm một lượt những cuốn sách quan trọng nhất của mình, và giờ anh ta đang ở đây, ngồi trong một nhà kho bụi bặm, bốc mùi. Ngoài kia, một đoàn diễu hành khổng lồ đang chuẩn bị băng qua sa mạc Sahara, và đã lên lịch để đi qua Al-Fayoum.

“Mình sẽ tìm được nhà giả kim chết tiệt đó”, anh chàng người Anh nghĩ. Mùi của lũ súc vật trở nên dễ chịu hơn một chút.

Một anh chàng Ả-rập trẻ tuổi, cũng chất đồ xuống, bước vào và đón chào anh người Anh.

“Anh đi đâu vậy?” anh chàng trẻ tuổi Ả-rập hỏi.

“Tôi sắp đi vào sa mạc”, người đàn ông trả lời, rồi quay trở lại với việc đọc sách. Anh ta không muốn có bất kì câu chuyện nào vào lúc này. Điều anh ta cần làm là xem lại tất cả những gì anh ta học được trong suốt các năm qua, vì nhà giả kim chắc chắn là muốn kiểm tra anh ta.

Anh chàng Ả-rập lấy ra một cuốn sách và bắt đầu đọc. Cuốn sách được viết bằng tiếng Tây Ban Nha. “Tốt đây,” người Anh nghĩ. Anh ta nói tiếng Tây Ban Nha tốt hơn là tiếng Ả-rập, và nếu cậu chàng này cũng đến Al-Fayoum, sẽ có người để nói chuyện khi không có chuyện gì quan trọng để làm.
*

“Thật là lạ”, cậu chàng nói, khi cậu cố gắng đọc lại lần nữa cảnh chôn cất – cảnh bắt đầu trong cuốn sách. “Tôi đã cố trong 2 năm để đọc cuốn sách này, và tôi không bao giờ đọc nổi quá vài trang đầu.” Ngay cả không có vị vua ở đấy để cắt ngang, cậu cũng không bao giờ tập trung nổi.

Cậu vẫn có chút nghi ngờ về quyết định của mình. Nhưng cậu đã hiểu được một điều: Ra quyết định chỉ là sự bắt đầu của mọi thứ. Khi một người ra quyết định, anh ta thực sự dấn thân vào một tình huống mang anh ta đến những nơi mà anh ta không bao giờ mơ nổi khi anh ta mới quyết định.

“Khi mình quyết định tìm kho báu, mình đã không bao giờ tưởng tượng nổi là mình sẽ bay đến làm việc tại một cửa hàng pha lê”, cậu nghĩ. Và việc gia nhập đoàn lữ hành có thể là quyết định của mình, nhưng mọi việc sẽ như thế nào lại là một bí ẩn với mình.

Gần đó là một người Anh, đang đọc cuốn sách. Anh ta trông có vẻ không thân thiện và nhìn có vẻ kích động khi cậu bước vào. Họ có thể trở thành bạn bè, nhưng anh chàng người Anh đã ngăn câu chuyện.

Cậu đóng sách lại. Cậu cảm thấy cậu không muốn làm gì khiến cậu trông giống anh chàng người Anh. Cậu lấy Urim và Thummim từ trong túi và bắt đầu chơi với chúng.

Người lạ thốt lên: “Urim và Thummim!”
Trong tích tắc, cậu bỏ chúng lại vào túi.

“Chúng không phải để bán”, cậu nói.

“Chúng không đáng giá lắm đâu.”, người Anh trả lời. “Chúng chỉ làm từ tinh thể đá và có hàng triệu tinh thể đã trên thế giới. Nhưng những người biết về những điều này sẽ biết chúng là Urim và Thummim.

“Tôi không biết là chúng có ở phần thế giới” (cái này khó hiểu, nguyên tác:
I didn’t know that they had them in this part of the world.”)

“Chúng là món quà của một vị vua cho tôi”, cậu nói.

Người lạ không nói gì; thay vào đó, anh ta bỏ tay vào túi và lấy ra 2 hòn đá giống hòn đá của cậu.

“Anh nói là một vị vua?” Anh ta hỏi.

“Tôi cho là anh không tin rằng một vị vua có thể nói chuyện với một người như tôi, một
người chăn cừu du mục”, cậu nói, muốn kết thúc câu chuyện.

“À không. Người chăn cừu du mục là những người đầu tiên nhận ra vị vua, trong khi phần còn lại của thế giới từ chối điều đó. Vậy nên chả có gì ngạc nhiên khi các vị vua nói chuyện với những người chăn cừu.”

Và rồi anh ta tiếp tục, lo ngại rằng cậu sẽ không hiểu điều anh ta đang nói, “Nó được viết trong Kinh thánh. Cũng là cuốn sách dạy tôi về Urim và Thummim. Những hòn đá là dạng duy nhất của chiêm tinh mà Chúa trời cho phép. Các linh mục đã mang chúng trong các áo giáp bằng vàng.”

Cậu bất ngờ cảm thấy vui mừng vì đã ở trong nhà kho.

“Có thể đây là một dấu hiệu”, người Anh nói, nhấn mạnh (half-aloud).

“Ai nói với anh về các dấu hiệu vậy?” Sự hứng thú của cậu ngay lập tức tăng lên.

“Mọi thứ trong cuộc sống đều là các dấu hiệu”, người Anh nói, bây giờ đã đóng cuốn sách mà anh ta đang đọc. “Có một ngôn ngữ vũ trụ, mọi người đều hiểu nhưng đã bị quên lãng. Tôi đang tìm thứ ngôn ngữ đó, giữa các thứ khác. Đó là lý do tại sao tôi ở đây. Tôi phải tìm một người biết ngôn ngữ vũ trụ. Một nhà giả kim.”

Câu chuyện bị cắt ngang bởi chủ nhà kho.

“Hai cậu may mắn đấy.”, người Ả-rập to béo nói. “Có một đoàn lữ hành hôm nay sẽ rời đi Al-Fayoum.”

“Nhưng tôi đi Ai Cập mà.”, cậu nói.

“Al-Fayoum ở Ai Cập.”, người Ả-rập nói. “Cậu là kiểu người Ả-rập gì vậy?”

“Đó là một điềm tốt,” người Anh nói, sau khi người Ả-rập to béo đã đi ra

“Nếu tôi có thể, tôi sẽ viết một bách khoa toàn thư khổng lồ chỉ về từ ngữ may mắn và sự ngẫu nhiên. Chỉ với những từ này mà ngôn ngữ vũ trụ đã được viết nên.”

Anh ta nói với cậu không có sự ngẫu nhiên mà anh ta gặp cậu với hòn đá Urim và Thummim trên tay. Và anh ta hỏi cậu, nếu cậu cũng đang tìm nhà giả kim.

“Tôi đang tìm một kho báu,” cậu nói, và ngay lập tức thấy hối hận vì đã nói ra. Nhưng anh chàng người Anh tỏ ra chẳng quan tâm gì đến nó.

“Theo một khía cạnh nào đó, tôi cũng thế”, anh ta đáp.

“Tôi thậm chí còn không biết thuật giả kim là gì,” cậu nói, khi chủ nhà kho kêu họ ra ngoài.

(còn tiếp)

The Alchemist – Nhà giả kim (p18)

Những ngọn đồi Andalusia cách chỉ 2 giờ, nhưng có nguyên một sa mạc ngăn cách cậu với các Kim tự tháp. Vậy là cậu cảm thấy có một phương án khác cho tình trạng của cậu: cậu thực ra chỉ cách 2 giờ với kho báu của cậu… thực tế là 2 giờ đã biến nguyên một năm không có ý nghĩa gì nữa.

Mình biết tại sao mình muốn trở về nhà. Cậu nghĩ. Mình hiểu lũ cừu; chúng không còn là một vấn đề nữa, và chúng có thể là những người bạn tốt. Mặt khac, mình không biết liệu sa mạc có thân thiện hay không, và trên sa mạc mình sẽ phải tìm kho báu của mình. Nếu mình không tìm thấy nó, mình luôn có thể trở về nhà. Mình cuối cùng sẽ luôn có đủ tiền và thời gian mình muốn. Vậy tại sao lại không nhỉ?

Cậu bất ngờ cảm thấy sung sướng tột độ. Cậu luôn có thể quay về làm một người chăn cừu du mục. Cậu luôn có thể trở lại là một người bán đồ pha lê. Có thể thế giới có những kho báu bí mật khác, nhưng cậu có giấc mơ, và cậu đã được gặp một vị vua. Điều đó không phải ai cũng có được! Cậu lên kế hoạch khi cậu rời khỏi quán bar. Cậu nhớ rằng một người cung cấp đồ cho nhà buôn pha lê đã vận chuyển pha lê theo đoàn bộ hành băng qua sa mạc. Cậu giữ Urim và Thummim trong tay; vì với hai hòn đá này, một lần nữa cậu lại lên đường với kho báu của mình.

“Ta luôn ở gần đó, khi một người muốn hiện thực hóa giấc mơ của họ”, vị vua già đã nói như thế với cậu.

Nó sẽ tốn bao nhiêu để đến nhà kho của người cung cấp và tìm ra rằng thực sự các Kim tự tháp có quá xa hay không?
*
Một anh chàng người Anh đang ngồi trên băng ghế có cấu trúc mang mùi của động vật, mồ hôi và bụi; nó là một phần của nơi chứa đồ linh tinh (nhà kho – warehouse) , một phần của chuồng nuôi súc vật.

Mình không thể ngờ là có một ngày mình sẽ có kết cục ở một nơi như thế này. Anh ta nghĩ, khi anh ta lật nhanh các trang một cuốn tạp chí hóa học. Mười năm tại trường đại học, và giờ mình đang ở chỗ nuôi nhốt súc vật.

Nhưng anh ta phải tiếp tục. Anh ta tin tưởng vào các dấu hiệu. Suốt cuộc đời của anh ta và các nghiên cứu của anh ta chỉ nhằm tìm ra ngôn ngữ thực sự của vũ trụ. Đầu tiên anh ta học Quốc tế ngữ, rồi các tôn giáo trên thế giới, và giờ là thuật giả kim. Anh ta biết nói Quốc tế ngữ, anh ta hiểu tất cả các vùng quan trọng khá rõ, nhưng anh ta chưa thực sự là một nhà giả kim. Anh ta tháo gỡ sự thật đằng sau những câu hỏi quan trọng, nhưng các nghiên cứu của anh ta dẫn đến điểm xa hơn mà anh ta có thể tới. Anh đã cố gắng trong tuyệt vọng để có được mối liên quan với một nhà giả kim. Nhưng các nhà giả kim đều là những người lạ, những người chỉ nghĩ về chính bản thân họ, và hầu như luôn từ chối giúp anh ta. Ai mà biết được, có thể họ đã thất bại trong việc tìm ra bí mật của Master Work (xin phép không dịch vì chưa hiểu rõ tường tận nghĩa) – Hòn đá của Triết gia (the Philosopher’s Stone) và có thể vì lý do đó họ giữ kiến thức lại cho riêng họ.
(còn tiếp)

The Alchemist – Nhà giả kim (p17)

Cậu trở về phòng và gói ghém đồ đạc. Đồ đạc đựng đầy trong 3 túi. khi cậu chuẩn bị đi, cậu nhìn thấy trong góc phòng, bị đồ chăn cừu cũ của cậu. Khi cậu lấy cái áo khoác cũ ra khỏi bị, định bụng sẽ cho một người nào đó trên đường, hai hòn đá rơi ra sàn. Urim và Thummim.

Việc này khiến cậu nhớ đến vị vua già, và làm cậu giật mình vì đã lâu rồi cậu mới nhớ đến ông. Trong gần một năm, cậu đã làm việc một cách không ngơi nghỉ, chỉ nghĩ về để dành tiền để cậu có thể trở về Tây Ban Nha trong tự hào.

Không bao giờ ngừng mơ ước.” Vị vua già đã nói. “Hãy theo các dấu hiệu“.

Cậu nhặt Urim và Thummim lên, và một lần nữa cậu có cảm giác lạ lùng là ông già đang có ở đó. Cậu đã làm việc vất vả trong một năm, và giờ các dấu hiệu bảo cậu đã đến lúc lên đường.

Mình sẽ quay về làm việc mà mình đã từng làm trước đây, cậu nghĩ. Ngay cả khi lũ cừu không dạy cậu nói tiếng Ả-rập.

Nhưng bọn cừu đã dạy cậu một điều quan trọng hơn: có một thứ ngôn ngữ trên thế giới mà mọi người đều hiểu, một ngôn ngữ cậu đã sử dụng suốt thời gian cậu cố gắng cải thiện mọi thứ trong cửa hàng. Nó là ngôn ngữ của sự nhiệt thành, của việc mọi thứ được hoàn thành với tình yêu và có mục đích, như một phần của việc tìm kiếm một điều thuộc về niềm tin và mong muốn.

“Khi cậu muốn điều gì đó, cả thế giới sẽ ngầm xoay chuyển để giúp cậu đạt được điều đó.”, vị vua già đã nói như vậy.

Nhưng ông vua già không nói gì về việc bị cướp, hoặc về sa mạc vô tận, và về những người biết giấc mơ của họ là gì nhưng không bao giờ hiện thực hóa nó. Ông vua già không nói rằng Kim tự tháp thực ra chỉ là một đống đá, hoặc là ai đó có thể xây một đống đá như vậy trong sân sau nhà mình. Và ông ta cũng quên đề cập đến chuyện khi người ta có đủ tiền để mua số lượng bầy chăn lớn hơn mà người ta từng có, người ta nên mua chúng.

Cậu nhặt cái bị của mình lên và bỏ nó chung với những thứ khác. Cậu đi xuống lầu, và tìm thấy người thương gia đang đợi một cặp người nước ngoài, khi hai người khách khác bước vào cửa hàng, uống trà trong các ly pha lê. Như vậy là nhiều hoạt động hơn là buổi sáng tầm giờ này. Từ nơi cậu đứng, lần đầu tiên cậu thấy tóc của người thương gia già rất giống tóc của vị vua già. Cậu nhớ lại nụ cười của người bán kẹo vào ngày đầu tiên cậu ở Tangier, khi cậu không có gì để ăn và không có chỗ để đi, nụ cười đó cũng giống như nụ cười của ông vua già.

Gần như là ông ấy đã ở đây và để lại dấu ấn của mình, cậu nghĩ, và vậy là, chưa ai trong những người này đã gặp vị vua. Mặt khác, ông đã nói là ông luôn hiện ra để giúp những ai muốn hiện thực hóa giấc mơ của họ. Cậu đi mà không tạm biệt người thương gia pha lê. Cậu không muốn khóc trước những người khác ở đó. Cậu sẽ nhớ nơi này, và tất cả những điều tốt đẹp mà cậu đã học được. Cậu đã tự tin vào mình hơn, và cảm giác như là cậu có thể chinh phục được thế giới.

“Nhưng mình sẽ quay về những cánh đồng mà mình biết, để chăm sóc lũ cừu một lần nữa.” Cậu nói với bản thân với một sự chắc chắn, nhưng cậu không còn cảm thấy vui vẻ với quyết định của mình nữa. Cậu đã làm việc trong suốt một năm để biến giấc mơ thành hiện thực, và giấc mơ đó, từng phút một, trở nên kém quan trọng đi. Có lẽ đó không thực sự là điều mà cậu mơ ước.

Ai mà biết được… có lẽ sẽ tốt hơn nếu giống như là người thương gia pha lê: không bao giờ đến Mecca, và chỉ trải qua một cuộc sống với mong muốn thực hiện điều đó, cậu nghĩ, và lại một lần nữa cố thuyết phục bản thân. Nhưng khi cậu cầm Urim và Thummim trong tay, chúng đã truyền cho cậu một sức mạnh và ý chí của vị vua già. Bằng sự ngẫu nhiên, hoặc có thể nó là dấu hiệu, cậu nghĩ – cậu đến quầy bar mà cậu đã bước vào ngày đầu tiên ở đây. Kẻ trộm không có ở đó, và người chủ tiệm lấy cho cậu một ly trà.

Mình có thể luôn quay về thành một người chăn cừu, cậu nghĩ. Mình đã học cách chăm sóc lũ cừu, và mình vẫn chưa quên cách thực hiện.  Nhưng có lẽ mình sẽ không bao giờ có một cơ hội khác để đến chỗ Các Kim tự tháp ở Ai Cập. Ông lão mặc một bộ giáp vàng, và ông biết quá khứ của mình. Ông ấy thực sự là một vị vua, một vị vua thông thái.

(còn tiếp)

Nhà giả kim (p16)

Những người leo lên ngọn đồi, họ thấm mệt sau khi đã lên tới định đồi. Rồi họ thấy một cửa hàng pha lê có bán trà bạc hà giải khát, họ vào cửa hàng để uống trà, được phục vụ trong những ly pha lê tuyệt đẹp.

“Vợ tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện này”, một người nói, và anh ta mua vài món đồ pha lê – anh ta đùa với các vị khách tối đó. Họ cảm thấy ấn tượng vì vẻ đẹp của các ly thủy tinh. Một người khác nhấn mạnh rằng trà luôn ngon hơn khi được phục vụ trong đồ pha lê, vì vẫn giữ được hương vị. Người thứ 3 nói rằng đây là truyền thống của người Đông Phương khi sử dụng các ly đựng trà bằng pha lê vì nó có quyền năng ma thuật.

Chẳng mấy chốc, tin tức lan truyền, và có rất nhiều người bắt đầu leo lên đỉnh đồi để xem cửa hàng đang kinh doanh hình thức mới cho một mặt hàng quá quen thuộc. Các cửa hàng khác phục vụ trà trong ly pha lê cũng được mở ra, nhưng họ không nằm trên đỉnh đồi, vậy nên việc kinh doanh của họ vẫn ở quy mô nhỏ. Dần dần, người thương gia phải thuê thêm 2 nhân công nữa. Ông bắt đầu nhập số lượng lớn trà cùng với đồ pha lê, và cửa hàng của ông được cả nam và nữ tìm đến với mong mỏi điều mới.  Và, bằng cách đó, nhiều tháng trôi qua.

*

Cậu dậy trước bình minh. Đã 11 tháng và 9 ngày trôi qua kể từ khi cậu đặt chân lên lục địa châu Phi. Cậu mặc đồ kiểu Ả-rập với vải trắng được mua đặc biệt cho ngày này. Cậu trùm khăn trùm đầu và quấn một vòng vải bằng da lạc đà quanh nó . Đeo đôi xăng-đan mới, cậu bước xuống lầu trong yên lặng. Thành phố vẫn còn đang ngủ. Cậu chuẩn bị cho mình một miếng bánh sandwich và uống ít trà nóng từ một ly thủy tinh. Rồi cậu ngồi ngay cửa ra vào đầy ánh nắng mặt trời, hút hookah. Cậu hút trong im lặng, không suy nghĩ về điều gì và nghe âm thanh của gió mang hương thơm của sa mạc. Khi cậu hút xong, cậu đút tay vào túi, và ngồi đó một lúc, vì cái cậu mới lấy ra. Đó là một số tiền lớn. Đủ để mua cho cậu 120 con cừu, một vé quay về và một giấy phép nhập sản phẩm từ châu Phi vào đất nước của cậu.
Cậu kiên nhẫn đợi người thương gia thức dậy và mở cửa hàng. Rồi cả hai đi ra ngoài lấy thêm trà.
“Cháu sẽ đi hôm nay”, cậu nói, “Cháu đã có số tiền mình cần để mua cừu. Và bác cũng có đủ tiền bác cần để đi đến Mecca.”

Ông già không nói gì cả.

“Bác có thể cầu phước cho cháu không?”, cậu hỏi, “Bác đã giúp cháu.”

Ông già tiếp tục chuẩn bị trà, không nói gì cả. Rồi ông quay lại phía cậu. “Ta tự hào về cậu.”, ông nói, “Cậu đã mang cảm nhận mới vào cửa hàng pha lê của ta. Nhưng cậu biết rằng ta không đi Mecca. Như là cậu biết rằng cậu sẽ không mua cừu.”

“Ai nói bác vậy?” cậu giật mình hỏi.

“Maktub”. Ông già thương gia nói. Và sau đó ông chúc phúc cho cậu.

(còn tiếp)

The Alchemist – Nhà giả kim (p.14)

Phần II

Cậu đã làm việc cho người bán đồ pha lê được gần một tháng,và cậu có thể thấy đây không hẳn là công việc làm cho cậu thấy hạnh phúc. Người bán đồ pha lê dành nguyên ngày lẩm nhẩm sau quầy hàng và dặn cậu cẩn thận với từng món đồ, đừng làm vỡ cái gì cả.

Nhưng cậu ở lại với công việc vì người bán đồ pha lê. Dù ông ta là một ông già kì cục (old gouch), đã đối xử với cậu khá tốt; cậu nhận được hoa hồng tốt cho từng món đồ mà cậu bán được, và cậu cũng đã để dành được một ít tiền. Buổi sáng hôm đó cậu đang tính toán: nếu cậu tiếp tục làm việc hàng ngày như cậu đang làm, cậu sẽ mất cả năm để có thể mua được vài con cừu.

“Tôi muốn mua vài cái kệ trưng bày đồ pha lê.” Cậu nói với người chủ cửa hàng. “ Chúng ta có thể để nó ở ngoài, và thu hút được những người đi qua ở chân đồi.

“Ta chưa bao giờ có một cái kệ nào cả.”, ông chủ cửa hàng trả lời. “Mọi người đi ngang qua và va vào nó, các đồ pha lê sẽ bị vỡ.”

“Khi tôi mang lũ cừu qua các cánh đồng, một vài con có thể sẽ chết nếu chúng tôi gặp rắn. Nhưng đó là cuộc sống của cừu và người chăn cừu.”

Ông chủ cửa hàng quay sang người khách muốn mua ba tấm kính pha lê. Ông đang kinh doanh phát đạt hơn bao giờ hết, như thể thời hoàng kim lúc con đường này là một trong những điểm thu hút nhất ở Tangier.

“Việc kinh doanh thực sự có khá lên.”, ông nói với cậu, sau khi người khách đã đi. “Ta đang làm tốt hơn trước nhiều, và cậu sớm sẽ được trở về với lũ cừu. Vậy tại sao cậu lại đòi hỏi cuộc sống nhiều hơn nữa?”

“Bởi vì chúng ta phải đáp lại các dấu hiệu (điềm báo).”, cậu nói, gần như không có chủ ý; và cậu hối tiếc với điều cậu vừa nói, vì người chủ cửa hàng chưa bao giờ gặp vị vua.

“Điều này được gọi là nguyên tắc của sự ưa thích, may mắn của kẻ mới bắt đầu. Vì cuộc sống muốn cậu đạt được số mệnh của cậu”, vị vua già đã nói.

Nhưng ông chủ bán đồ pha lê hiểu những gì cậu vừa nói. Sự có mặt của cậu trong cửa hàng là một dấu hiệu, và với thời gian trôi qua, tiền đổ về nhiều hơn, ông ta không hối hận vì đã thuê cậu. Cậu đã bắt đầu được trả nhiều hơn mức cậu xứng đáng, vì người thương gia đã nghĩ rằng việc buôn bán không tốn nhiều (not clear idea), đã cho cậu mức hoa hồng cao hơn. Ông cho rằng cậu sẽ sớm trở về với lũ cừu.

“Tại sao cậu muốn đến kim tự tháp?” ông ta hỏi, để tránh bàn luận về việc trưng bày.

“Vì tôi đã luôn được nghe về chúng.”, cậu trả lời, không nói gì về giấc mơ của cậu. Kho báu bây giờ chẳng là gì cả ngoài kí ức đau buồn, và cậu tránh không nghĩ tới nó.

“Ta không biết ai quanh đây muốn băng qua sa mạc chỉ để đến xem Kim tự tháp.” ông chủ cửa hàng nói, “Chúng chỉ là một đống đá. Cậu có thể xây một cái ở sân sau nhà cậu.”

“Ông chưa bao giờ mơ tới việc đi chu du cả”, cậu nói, quay sang chờ một vị khách mới bước vào cửa hàng.

Hai ngày sau, người thương gia nói chuyện với cậu về việc trưng bày hàng.

“Ta không thích sự thay đổi lắm.”, ông ta nói, “Cậu và ta không giống như Hassan, người thương gia giàu có. Nếu ông ta mua nhầm thứ gì, điều đó chẳng ảnh hưởng lắm đến ông ta. Nhưng hai chúng ta phải sống với sai lầm của mình.”

Điều đó khá đúng, cậu nghĩ, “thật là buồn”.

“Tại sao cậu nghĩ chúng ta nên có quầy trưng bày?”

“Tôi muốn trở về với lũ cừu sớm hơn. Chúng ta phải tận dụng khi may mắn vẫn đang mỉm cười với chúng ta, làm càng nhiều để giúp nó giống như nó đang giúp chúng ta. Đó là nguyên tắc của favorability. Hoặc là sự may mắn của kẻ bắt đầu.”

Ông chủ cửa hàng im lặng một lúc. Rồi ông ta nói, “Nhà Tiên tri (prophet) đã đưa cho chúng ta quyển kinh Koran, và bỏ đi với chỉ 5 nghĩa vụ (obligation) để thỏa mãn trong suốt cuộc đời của chúng ta. Điều quan trọng nhất là chỉ tin tưởng vào một Đấng quyền năng thực sự. Những điều khác là cầu nguyện 5 lần một ngày, nhịn ăn trong tuần Ramadan và bố thí cho kẻ nghèo khó.”

Ông ta dừng ở đó. Mắt ông đẫm lệ khi ông nhắc đến Nhà tiên tri. Ông là một người mộ đạo và ngay cả với tất cả sự mất kiễn nhẫn của mình, ông muốn sống cuộc sống theo đúng luật đạo Hồi.

“Còn nghĩa vụ thứ 5 là gì?” cậu hỏi.

“Hai ngày trước cậu nói ta có bao giờ mơ ước được đi chu du,” người thương gia trả lời. “Nghĩa vụ thứ 5 của mỗi người Hồi giáo là hành hương. Chúng ta có nghĩa vụ, ít nhất một lần trong đời, phải đến thánh địa Mecca.

Mecca còn xa hơn chỗ kim tự tháp rất nhiều. Khi ta còn trẻ, tất cả những gì ta muốn là để dành đủ tiền để mở cửa hàng này. Ta nghĩ rằng một ngày nào đó ta sẽ trở nên giàu có, và ta có thể đến Mecca. Ta bắt đầu kiếm ra được ít tiền, nhưng ta chưa bao giờ để ai khác ngoài bản thân quản lý cửa hàng, vì những đồ pha lê này rất đáng giá. Cùng lúc đó, nhiều người đến cửa hàng của ta suốt ngày, họ hướng về Mecca. Một vài người là những người hành hương giàu có, đi du lịch với đoàn hộ tống có người hầu và lạc đà, nhưng hầu hết những người hành hương đều nghèo hơn ta.

Tất cả những người đi đến đó đều rất hạnh phúc khi thực hiện chuyến đi. Họ đặt biểu tượng hành hương trên cửa nhà họ. Một trong số họ, một người là thợ sửa giày, chuyên kiếm sống bằng nghề vá các đôi ủng, nói rằng anh ta đã đi chu du gần một năm qua sa mạc, nhưng anh ta thấy mệt mỏi hơn khi phải đi qua các con phố Tangier để mua da giày.

“Chà, vậy tại sao bây giờ ông không đi đến Mecca?” câu hỏi.

“Vì chính suy nghĩ đến Mecca khiến ta sống. Điều đó giúp ta đối diện với những ngày mà mọi ngày đều giống nhau, những mảnh pha lê im lặng này trên kệ, ăn trưa và tối ở cùng một quán dở tệ. Ta sợ rằng nếu giấc mơ của ta thành hiện thực, ta sẽ không còn lý do gì để tiếp tục sống.

Cậu mơ về lũ cừu và kim tự tháp, nhưng cậu khác ta, vì cậu muốn hiện thực hóa giấc mơ của mình. Ta chỉ muốn mơ về Mecca. Ta đã tưởng tượng hàng ngàn lần băng qua sa mạc, đến Điện Hòn đá Thiêng, ta đi quanh Hòn đá 7 lần trước khi ta cho phép mình chạm vào nó. Ta cũng đã tưởng tượng những người ở xung quanh ta, và trước mặt ta, và tất cả những câu chuyện, những sự cầu nguyện mà chúng ta cùng chia sẻ. Nhưng ta sợ rằng nó sẽ trở thành một sự thất vọng, vậy nên ta thấy tốt hơn là mơ về nó.

Ngày hôm đó, người thương gia cho phép cậu xây khu trưng bày. Không phải ai cũng thấy giấc mơ của mình thành hiện thực theo cùng một cách.

(còn tiếp)

Một ngày mưa

Thực ra thì mấy bữa nay hầu như ngày nào cũng mưa cả.

Đó chỉ là một cái cớ, để thỉnh thoảng có cái khởi đầu. Đôi khi là thế, à không, với tôi thì đa phần là thế. Hồi xưa đi học, mỗi lần viết tập làm văn là mỗi lần đấu tranh chật vật với cái mở bài. Có khi mất cả hơn 30 phút cho nguyên bài viết 90 phút. Còn 60 phút ư? Cũng có lần phải mất gần nửa tiếng.

Và sau khi có được cái mở bài, mọi thứ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

Nếu bạn nghĩ điều tôi sắp nói, sẽ là dạng như, à, vậy đấy, cái gì cũng có thể rất chật vật khó khăn khi khởi đầu. Và khi vượt qua nó rồi thì mọi thứ sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

Ừm, thực ra thì dạng dạng như vậy nhiều người đã nói rồi. Và với tôi thì, như đã nói, nó luôn đúng, nên không phải là điều tôi định viết cho cái entry lảm nhảm này.

Vậy thì tôi đang viết về cái gì?

Thực ra là không gì cả. Bạn biết đấy, khi đánh những dòng này, mặc dù là tôi xưng “bạn – tôi” nhưng thực ra là tôi đang nói với chính mình. Không phải sao? Vì trước tiên người đọc được bài viết của tôi luôn là chính bản thân tôi. Đôi khi tôi cảm thấy cần diễn đạt với bản thân mình một chút, vậy là tôi viết.

Tất nhiên, nó phải đủ cởi mở để tôi có thể “public” cái entry này, cho bất kể xa lạ quen gần gì (dù tôi không cho link blog của tôi cho người quen ngoài đời thực trước, trừ 2 người: nhỏ bạn thân – người đã không còn online nhiều nữa để đọc blog của tôi, và người bạn đi chung tháng 12 vừa rồi – người không biết tiếng Việt và tôi biết là anh bạn này cũng chẳng còn đủ quan tâm để ghé đến blog của tôi lần thứ 2).

Và tất nhiên, nó đủ độ riêng tư, vì đây là blog cá nhân.

Bây giờ tôi sẽ lạm bàn sang vấn đề mà tôi không thích một chút: chính trị. À, cái này nhức đầu lắm lắm. Hồi còn nhỏ, tôi thích nghe tin thế giới, nhưng không hiểu sao cực kì ghét mục thời sự (tin trong nước). Bây giờ già hơn xưa rất nhiều, thì tôi lại cảm giác như mình đủ quan tâm cả 2. Dù tin trong nước… phải nói là càng xem càng thấy loạn xì ngầu và càng chán.

Tại sao chán? Quanh đi quẩn lại cũng thế. Nếu bạn là người Việt và không quá ngây thơ thì tôi nghĩ là bạn hiểu. Cũng không cần nói nhiều làm gì. Phải thừa nhận là tôi là một kẻ khá hèn. Vì cũng chẳng hẳn là đứng về một phía nào cụ thể, dù đôi khi muốn chọn lấy một phía. Ví dụ như đọc blog, nghe nói về “lề trái lề phải” gì đấy, thì nghĩ cho cùng, nếu chọn lấy “một lề”, khả năng “ăn đạn” của bạn sẽ tốt hơn là khi bạn đứng giữa 2 lề. Vì bị đạn lạc.

Đơn giản lấy ví dụ, “lề phải”, họ gọi những ai không hẳn ủng hộ họ là “những kẻ…”, còn “lề trái”, họ gọi những người không theo họ, là “những con lừa”.

Vốn là một người ba phải từ bé, tôi dù không thích bị đạn lạc, nhưng phải công nhận là tôi vẫn muốn ở giữa, xem cả 2 diễn trò.

Và dù vậy, như một câu nào đó tôi từng đọc ở đâu đó với đại ý là nếu bạn là người thì sớm muộn bạn phải chọn lấy một phía; thì một kẻ ba phải như tôi, ít nhiều gì cũng nghiêng về một phía, dù vẫn ba phải. 😐

Và phía nào, thì với tình hình như hiện nay, nếu bạn quan tâm thời sự một chút, thì tôi nghĩ bạn cũng dễ dàng đoán được.

Thực lòng tôi thấy có quá nhiều điều mà Chính phủ cần phải quan tâm hơn, nếu muốn người dân thực sự đứng về phía họ như ngày trước. Những người chiến đấu vì một niềm tin mà họ đưa ra trước kia, đều có vẻ bị phai nhạt niềm tin đó ít nhiều. Và nếu cực đoan, như bố tôi chẳng hạn – ông là một người cực kì, cực kì Bonsevich, sinh ra lớn lên với niềm tin tuyệt đối là mọi thứ sau chiến tranh sẽ cực kì tốt đẹp; thì bây giờ lại trở nên thất vọng hơn bao giờ hết với niềm tin đó. Và bạn nên tin tôi, khi tôi thực lòng nói rằng, chứng kiến một người sụp đổ tinh thần vì một niềm tin bền vững như vậy, quả thực rất đau lòng.

Tuy vậy, tôi cũng chẳng có hứng thú gì với tất cả sự kêu gọi đấu tranh – dù cái này hơi nhục một chút, vì tôi nghĩ là mình cũng nên góp phần ủng hộ sự thay đổi để tốt đẹp hơn – chứ cũng chẳng hẳn thay đổi Chính phủ hay Nhà nước, Đảng gì đó. Tôi không quan tâm đến những cái đó, vì tôi KHÔNG LÀM CHÍNH TRỊ, và cũng không đủ quan tâm đến bất kì đoàn thể tôn giáo nào cả. Chỉ đơn giản là, với tư cách là một công dân, nếu có khả năng nào đó quyền góp ý của công dân thực sự được tôn trọng chứ không phải là một trò hề, thì tôi cũng muốn tham gia, vì tôi là công dân của nước đó, và thực sự là tôi cũng muốn đất nước mà tôi sống tốt đẹp hơn một chút.

Ngưng vấn đề nhạy cảm đó tại đây. Giờ tôi sẽ nói sang chuyện khác. Tôi đã chẳng nói là entry này chẳng về một vấn đề gì cả, nó sẽ nhảy linh tinh vì đơn giản là tôi theo dòng suy nghĩ của mình, vậy thôi. Mà suy nghĩ, bạn biết rồi đó, nó có thể đang nhảy từ cành cây sang đáy ngọn núi lửa, hay bay ra vũ trụ, có trời mới cản nổi.

Chỉ mới cách đây mấy ngày, chính xác là 2 ngày và vài tiếng, tôi cảm thấy như mình có thể làm được bất kì điều gì, thì hôm nay, tôi lại trở lại cảm giác nghi ngờ về rất nhiều thứ. Cứ giống như là bạn là một người thích tiền và bạn nhặt được một cái ví. Bạn nghĩ nó có tiền, và bạn cảm thấy vui, nhưng sau đó, bạn nhận ra là bạn cần phải trả lại cái ví. Tất nhiên xét cho cùng, nhặt được hay không thì cái ví lẫn tiền trong đó vốn không phải của bạn. Tức là, cuối cùng thì tôi có tự tin hay là tự ti thì bản chất sự việc có lẽ không đổi. Nhưng việc bạn vui vì nhặt được ví hay buồn vì phải trả lại (do lương tâm chẳng hạn), thì nó cũng ảnh hưởng đến cách bạn quyết định thực hiện sự việc đó.

Chà, tôi viết lung tung quá, có lẽ tôi cũng không nhận ra mình đang viết cái gì nữa.

Hôm nay có lẽ tâm trạng tôi hơi lung tung. Tôi có thể đổ lỗi là do cuối cùng mình đã chấp nhận hoàn cảnh là mình phải hoàn toàn không quan tâm đến người không quan tâm mình nữa, nhưng vẫn có cảm giác không cam lòng. Tôi có thể đổ lỗi là do thời tiết quá khó chịu, dù mưa thì mưa nhưng oi vẫn oi. Dù thế nào, như tôi vẫn hay bảo với chính mình, chẳng có gì là mãi mãi, và chuyện gì cũng có thể xảy ra.

The Alchemist – Nhà giả kim (p11)

Ngoài ra, do gấp gáp cho chuyến đi, cậu đã quên mất một chi tiết, chỉ một chi tiết nhưng có thể khiếp cậu sẽ phải mất thời gian lâu mới tìm ra kho báu: ở đất nước này người ta chỉ nói tiếng Ả rập.

Người chủ tiệm bar tiến tới cậu, và cậu chỉ vào loại thức uống đã được phụ vụ ở bàn bên cạnh. Hóa ra nó là một loại trà đắng. Cậu thích rượu hơn. Nhưng cậu không cần phải lo lắng đến việc đó và lúc này. Điều cậu quan tâm là kho báu của cậu, làm sao cậu có thể đi tìm nó. Vụ mua bán cừu đã cho cậu đủ tiền túi và cậu biết rằng tiền có ma thuật; bất kì ai có tiền không bao giờ thực sự đơn độc. Trước khi nhận ra, có thể chỉ trong vài ngày, cậu đã ở chỗ các kim tự tháp. Ông lão, với tấm áo giáp vàng sẽ không nói dối chỉ để đòi 6 con cừu.

Ông cụ đã nói về dấu hiệu và điềm báo, và khi cậu băng qua eo biển, cậu suy nghĩ về những dấu hiệu. Đúng thế, cậu biết về điều ông đã nói: trong thời gian cậu đi qua các cánh đồng ở Andalusia, cậu đã quen với việc học nhận biết con đường cậu nên đi bằng cách quan sát mặt đất và bầu trời. Cậu đã khám quá rằng có sự hiện diện của loài chim nhất định có nghĩ là có rắn ở gần đó, rằng một bụi cây cụ thể là dấu hiệu có nước trong khu vực đó. Bọn cừu đã dạy cậu những điều đó.

Nếu Thượng đế dẫn dắt bọn cừu tốt đến thế, người cũng sẽ dẫn dắt một con người, cậu nghĩ, và ý nghĩ đó làm cậu cảm thấy khá hơn. Trà có vẻ ít đắng đi.

“Anh là ai?” Cậu nghe một giọng hỏi cậu bằng tiếng Tây Ban Nha.

Cậu cảm thấy nhẹ nhõm. Cậu đang suy nghĩ về dấu hiệu và một người xuất hiện.

“Làm sao anh lại nói tiếng Tây Ban Nha nhỉ?” cậu hỏi. Người mới đến là một người đàn ông trẻ trong bộ quần áo phương Tây, nhưng màu da của anh chỉ ra rằng anh ta là người của thành phố này. Anh ta khoảng cùng tuổi và cùng chiều cao với cậu.

“Đa số mọi người ở đây nói tiếng Tây Ban Nha. Chúng ta chỉ cách Tây Ban Nha 2 giờ thôi.”

“Ngồi xuống đây, và để tôi mời câu cái gì nhé,” cậu nói, “và hỏi giúp tôi một ly rượu. Tôi ghét loại trà này.”

“Không có rượu trên đất nước này đâu”, người đàn ông trẻ nói, “Tôn giáo ở đây cấm.”

Cậu nói với anh ta là cậu cần tới chỗ những kim tự tháp. Cậu gần như nói với anh ta về kho báu của mình, nhưng quyết định không làm như vậy. Nếu cậu nói, có khả năng anh chàng Ả rập này sẽ muốn một phần của nó để trả công cho việc dẫn cậu đến đó. Cậu nhớ điều ông cụ nói về việc đề nghị những thứ mà mình chưa có.

“Tôi muốn cậu dẫn tôi đến đó nếu cậu có thể. Tôi có thể trả tiền cho cậu để cậu làm hướng dẫn viên cho tôi.”
“Anh có ý tưởng nào làm sao đến đó không?” người mới đến hỏi.

Cậu nhận thấy rằng ông chủ tiêm bar đứng gần đó, chú ý nghe cậu chuyện của họ. Cậu cảm thấy khó chịu với sự có mặt của ông ta, nhưng cậu đã tìm thấy người hướng dẫn và không muốn bỏ lỡ cơ hội này.

“Anh sẽ phải vượt qua toàn bộ sa mạc Sahara”, người trẻ tuổi nói, “Và để làm vậy, anh cần tiền. Tôi cần biết nếu anh có đủ tiền hay không.”

Cậu nghĩ đó là một câu hỏi kì lạ. Nhưng cậu tin vào ông cụ, người đã nói rằng khi bạn thực sự muốn điều gì đó, thế giới sẽ âm thầm giúp cho bạn.

Cậu lấy tiền trong túi ra và cho người trẻ tuổi xem. Người chủ quán cũng đến gần và nhìn. Hai người đàn ông đã trao đổi vài từ ngữ bằng tiếng Ả rập và người chủ quán tỏ ra cực kì khó chịu.

“Hãy ra khỏi đây”, người mới đến nói. “Ông ta muốn chúng ta rời khỏi đây.”

Cậu cảm thấy nhẹ nhõm. Cậu đứng dậy để trả tiền nhưng người chủ quán bắt lấy tay cậu và bắt đầu nói với cậu một tràng những từ ngữ giận dữ. Cậu khỏe và muốn chống trả, nhưng cậu đang ở nước ngoài. Người bạn mới của cậu đẩy người chủ qua một bên và kéo cậu ra ngoài với anh ta. “Ông ta muốn tiền của anh.”, anh ta nói, “Tangier không giống phần còn lại của châu Phi. Đây là cảng, và mọi khu cảng đều có kẻ cắp.”

Cậu tin vào người bạn mới. Anh ta đã giúp cậu thoát khỏi tình trạng nguy hiểm. Cậu lấy tiền ra và đếm.

“Chúng ta có thể đến chỗ kim tự tháp và ngày mai,” người kia nói, lấy tiền.” Nhưng tôi phải mua 2 con lạc đà.”
Họ đi bộ cùng nhau trên những con đường hẹp của Tangier. Mọi nơi đều có các gian quán với các mặt hàng bán. Họ đến khu trung tâm quảng trường nơi họp chợ. Có hàng nghìn người ở đó, cãi nhau, bán và mua; rau được bày bán giữa dao găm, và thảm được trưng bày một bên với thuốc lá. Nhưng cậu không bao giờ bỏ mắt ra khỏi người bạn mới. Hết tharym anh ta có tất cả tiền của cậu. Cậu nghĩ đến việc hỏi anh ta đưa lại cho mình nhưng quyết định rằng như vậy sẽ không thân thiện. Cậu không biết gì về tập quán của vùng đất lạ mà cậu đang ở.

“Ta sẽ chỉ canh chừng anh ta”, cậu tự nhủ. Cậu biết là cậu khỏe hơn bạn của mình.

Bất ngờ, giữa tất cả mọi thứ lẫn lộn, cậu thấy một thanh kiếm đẹp nhất mà cậu từng thấy. Vỏ kiếm được dập bạc, tay cầm màu đen và đính những viên đá quá. Cậu tự hứa rằng khi cậu trở lại Ai Cập, cậu sẽ mua thanh kiếm này.

“Hỏi người chủ của gian hàng này xem thanh kiếm trị giá bao nhiêu”, cậu nói với người bạn. Rồi cậu nhận ra cậu đã bị sao lãng trong giây lát vì thanh kiếm. Trái tim cậu thắt lại như thể lồng ngực của cậu nén nó lại. Cậu đã lo sợ nhìn xung quanh vì cậu biết cậu sẽ tìm thấy cái gì. Cậu tiếp tục nhìn thanh kiếm đẹp đẽ thêm một lúc, cho đến khi cậu lấy đủ dũng khí để nhìn xung quanh.

Tất cả mọi thứ xung quanh cậu là chợ, với người đến và đi, chửi bớt và mua bán, và hương thơm của các món lạ… nhưng cậu không thể tìm thấy người bạn đồng hành của mình ở nơi nào.

The Alchemist – Nhà giả kim (p9)

Ngày hôm sau, cậu gặp ông già vào giữa trưa. Cậu mang theo 6 con cừu.

“Tôi thật ngạc nhiên”, cậu nói “bạn tôi mua liền tất cả số cừu còn lại. Cậu ấy nói cậu ấy luôn muốn trở thành một người chăn cừu, và đó là một dấu hiệu tốt.”

“Đó là cách mà mọi thứ vận hành,” ông già đáp,”điều đó gọi là nguyên tắc của khả năng mong muốn (principle of favorability). Khi câu chơi bài lần đầu, cậu gần như chắc chắn là câu sẽ thắng. May mắn cho những kẻ mới bắt đầu.”

“Tại sao lại thế?”

“Bởi vì luôn có lực hấp dẫn muốn cậu nhận ra định mệnh của mình; nó mang thêm cho món ăn của cậu hương vị của thành công.”

Rồi ông lão bắt đầu xem xét lũ cừu, và ông ta thấy là một con bị khập khiễng. Cậu giải thích là điều đó không quan trọng, vì con cừu đó là con thông minh nhất trong đàn và cho nhiều len nhất.

“Kho báu ở đâu?” Cậu hỏi.

“Ở Ai Cập, gần mấy kim tự tháp.”

Cậu giật mình. Bà già cũng đã nói điều tương tự. Nhưng bà ta chẳng đòi cậu trả cái gì.

“Để tìm được kho báu, cậu phải theo các dấu hiệu. Thượng Đế đã chuẩn bị một con đường cho mỗi người đi theo. Cậu chỉ cần đọc các dấu hiệu mà Người đã để lại cho cậu.”

Trước khi cậu có thể đáp trả được điều gì, một con bướm xuất hiện, vỗ cánh bên cạnh cậu và ông già. Cậu nhớ lại điều mà ông cậu từng nói: bướm là một điềm (dấu hiệu) tốt. Giống như dế, và có thể trông đợi tương tự với thằn lằn và cỏ bốn lá.

“Đúng vậy,” ông già đáp, như là ông có khả năng đọc suy nghĩ của cậu. “Đúng như ông cậu nói. Chúng đều là những dấu hiệu tốt.”

Ông già mở áo choàng, và cậu bị sốc bởi những gì cậu thấy. Ông già mặc một tấm áo giáp bằng vàng nặng, bao phủ với những hòn đá quý. Cậu nhớ lại ánh sáng làm cậu bị choáng ngày hôm trước.

Ông ta thực sự là một ông vua! Ông ta phải cải trang để đối phó khi gặp cướp.

“Cầm lấy này,” ông già nói, đưa ra một hòn đá trắng và một hòn đá đen được để giữa tấm áo giáp. “Chúng được gọi là Urim và Thummim. Hòn màu đen biểu thị cho “có” và hòn màu trắng là “không”. Khi cậu không thể đọc được cái dấu hiệu, chúng sẽ giúp cậu điều đó. Luôn hỏi một câu hỏi có mục đích nhé.

Nhưng nếu cậu có thể, cố gắng đưa ra quyết định cho chính mình. Kho báu ở khu Kim tự tháp; điều đó cậu đã biết rồi. Nhưng ta phải cương quyết yêu cầu cậu trả ta 6 con cừu vì ta đã giúp cậu quyết định.”

Cậu bỏ hai hòn đá vào túi. Từ đây trở đi, cậu sẽ tự ra quyết định.

“Đừng quên rằng mọi thứ liên quan đến cậu chỉ vì một thứ và không có gì khác ngoài nó. Và đừng quên ngôn ngữ của dấu hiệu. Và, trên hết, đừng quên theo đuổi số mệnh của cậu cho đến cùng.

Trước khi ta đi, ta muốn kể cho cậu một câu chuyện nhỏ.

Một người chủ cửa hàng đưa con trai mình đến chỗ nhà thông thái nhất thể giới để học về bí mật của hạnh phúc. Anh chàng lang thang qua sa mạc trong 40 ngày, và cuối cùng đến chỗ một lâu đài đẹp tuyệt, ở trên đỉnh núi cao. Đó là nơi nhà thông thái nhất thế giới sống.

Không chỉ tìm một người thánh thiện, anh hùng của chúng ta, khi đi vào khu phòng chính của lâu đài, thấy các hoạt động náo nhiệt đang diễn ra: những người thương nhân ra vào, mọi người nói chuyện trong các góc phòng, một dàn thính phòng nhỏ đang chơi các bản nhạc nhẹ nhàng, và trên bàn đầy những món ăn ngon nhất trên thế giới. Người thông thái đang nói chuyện với mọi người, và anh chàng của chúng ta phải chờ 2 tiếng mới đến lượt nhận được sự chú ý của nhà thông thái.

Nhà thông thái chú ý lắng nghe lý do tại sao anh tới đây, nhưng nói với anh rằng ông không có đủ thời gian để giải thích bí mật của hạnh phúc. Ông đề nghị anh nên quan sát căn phòng và trở lại trong vòng 2 tiếng.

“Trong lúc đó, ta muốn yêu cầu anh một việc”, nhà thông thái nói, đưa cho anh một cái thìa trong đó có 2 giọt dầu. Khi anh đi dạo vòng quanh, hãy mang cái thìa này đi theo nhưng không để rơi dầu.”

Anh chàng bắt đầu leo lên và đi xuống những bậc thang trong tòa lâu đài, giữ mắt không rời khỏi cái thìa. Sau 2 tiếng, anh trở lại chỗ nhà thông thái.

“Chà,” nhà thông thái nói, “Anh có thấy những tấm thảm trang trí Ba Tư được treo ở sảnh ăn của ta? Anh có thấy khu vườn mất 10 năm xây dựng bởi những bậc thầy? Anh có thấy những cuộn giấy da dê đẹp tuyệt trong thư viện của ta?”

Anh chàng xấu hổ, và thú nhận rằng anh không quan sát gì cả. Điều anh quan tâm duy nhất là không làm đổ dầu mà nhà thông thái đã giao cho anh.

“Vậy thì đi lại và quan sát những điều kì diệu trong thế giới của ta.”, nhà thông thái nói. “Anh không thể tin một người nào đó nếu anh không biết gì về nhà của họ.”

Thở phào, anh cầm lấy thìa và trở lại khám phá tòa lâu đài, lần này anh quan sát tất cả những tác phẩm nghệ thuật trên trần nhà và tường. Anh thấy khu vườn, núi non bao quanh anh, vẻ đẹp của những bông hoa, và hương vị của những thứ đã được chọn lọc. Khi trở lại chỗ nhà thông thái, anh nói về từng chi tiết mà anh đã thấy.

“Nhưng mà những giọt dầu ta giao cho anh đâu rồi?” Nhà thông thái hỏi.

Nhìn xuống thìa anh cầm, anh chàng thấy rằng số dầu đã biến mất.

“Chà, chỉ có một lời khuyên ta có thể cho anh.” , người thông thái nhất trong những nhà thông thái nói, “Bí mật của hạnh phúc là nhìn thấy tất cả những điều tuyệt diệu trên thế giới mà không bao giờ quên những giọt dầu trên thìa.”

Người chăn cừu không nói gì. Cậu hiểu cậu chuyện mà vị vua già kể. Một người chăn cừu có thể thích đi chu du, nhưng anh ta không bao giờ nên quên lũ cừu của mình.

Ông già nhìn cậu và với hai bàn tay nắm lấy nhau, ông làm rất nhiều những động tác lạ lùng trên đầu của cậu. Rồi, lấy lũ cừu, ông bước đi.

(còn tiếp)

The Alchemist – Nhà giả kim (p8)

Cậu nhắc ông già là ông có nói gì đến kho báu bị chôn giấu.

“Lực chảy của nước làm lộ kho báu, và cũng chính các dòng chảy đó chôn vùi kho báu.” Ông già nói. “Nếu cậu muốn biết về kho báu của cậu, cậu phải đưa cho ta 1/10 số cừu cậu có.”

“Vậy 1/10 kho báu của tôi thì sao?”

Ông già có vẻ thất vọng. “Nếu cậu khởi đầu bằng hứa hẹn về một thứ mà cậu chưa có, cậu sẽ mất mong muốn làm các thứ để có được nó.”

Cậu kể cho ông già nghe là cậu đã hứa đưa 1/10 kho báu của cậu cho người phụ nữ Gypsy.

“Những người Gypsy là những người cực kì giỏi khiến mọi người phải làm vậy.” Ông già thở dài. “Dù sao chăng nữa, điều tốt là cậu đã được học rằng mọi thứ trong đời đều có giá của nó.

Đó là điều mà các Chiến binh Ánh sáng luôn cố gắng dạy.” Ông già trả cuốn sách lại cho cậu.

“Ngày mai, cùng thời gian này, mang cho ta 1/10 đàn cừu của cậu. Và ta sẽ nói cho cậu biết làm thế nào để tìm ra kho báu bị chôn vùi đó. Tạm biệt.” Và rồi ông biến mất ở góc quảng trường.

Cậu bắt đầu đọc lại cuốn sách của mình, nhưng cậu không thể tập trung được nữa. Cậu căng thẳng và bực mình, bởi vì cậu biết ông già đã đúng.

Cậu đến cửa hàng bánh và mua một ổ bánh mì, nghĩ liệu rằng cậu có nên nói cho người thợ về điều mà ông già đã nói với cậu về anh ta. Thỉnh thoảng tốt hơn là để mọi thứ như nó vốn có, cậu tự nhủ, và quyết định không nói gì cả. Nếu cậu đã nói gì đó, người thợ sẽ mất 3 ngày suy nghĩ về việc từ bỏ tất cả, ngay cả  khi  anh ta đã quen với việc để mọi thứ như vậy. Cậu có thể, chắn chắn là không muốn gây ra sự lo lắng đó cho người thợ. Vậy nên cậu đi tản bộ quanh thành phố và dừng lại trước các cánh cửa. Có một tòa nhà nhỏ ở đó, với một cửa sổ nơi mọi người mua vé đến Châu Phi. Và cậu biết là Ai Cập ở Châu Phi.

“Tôi có thể giúp gì cho cậu không?” người đàn ông đằng sau cửa sổ hỏi.

“Có lẽ để mai”, cậu nói, rồi đi mất. Nếu cậu bán chỉ một con cừu của cậu, cậu sẽ có đủ tiền để đi qua bờ bên kia của eo biển. Suy nghĩ này làm cậu sợ.

“Lại một kẻ mơ mộng nữa”, người bán vé nói với trợ lý của mình, nhìn cậu đi mất. “Anh ta không có đủ tiền để đi du lịch”.

Khi đứng ở cửa sổ quầy vé, cậu nhớ đàn cừu của mình, và quyết định cậu nên trở về làm một người chăn cừu. Trong hai năm cậu đã học mọi thứ về chăn cừu: cậu biết làm thế nào cạo lông cừu, làm thế nào chăm sóc cho những con cừu cái mang bầu, và làm thế nào bảo vệ lũ cừu khỏi chó sói. Cậu biết tất cả các cánh đồng và nơi chăn thả ở Andalusia. Và cậu biết giá cả phải chăng cho từng con trong bầy của mình.

Cậu quyết định trở về chuồng thả của bạn mình theo con đường dài nhất có thể. Khi cậu đi ngang qua lâu đài của thành phố, cậu cắt ngang con đường đi và trèo lên dốc đá dẫn đến đỉnh tường. Từ đó, cậu có thể nhìn thấy Châu Phi từ khoảng cách xa. Một ai đó từng nói với cậu rằng người Moors đã đến đó để chiếm đóng toàn bộ Tây Ban Nha.
Cậu có thể thấy hầu hết toàn bộ thành phố từ nơi cậu ngồi, bao gồm cả quảng trường nơi cậu đã nói chuyện với ông lão. Nguyền rủa lúc ta gặp ông già đó, cậu nghĩ. Cậu đã đến thị trấn này chỉ để tìm một người phụ nữ có thể lý giải giấc mơ của cậu. Cả bà ta lẫn ông già tất cả đều bị không bị ấn tượng với sự thật rằng cậu chỉ là một người chăn cừu. Họ là những cá thể đơn độc không còn tin vào mọi thứ, và không hiểu rằng những người chăn cừu đã trở nên gắn bó với đàn cừu của mình. Cậu biết mọi thứ về từng thành viên trong đàn: cậu biết con nào có khuyết tật, con nào sẽ sinh trong vòng 2 tháng nữa, và con nào lười biếng nhất. Cậu biết làm thế nào để xén lông chúng và làm thế nào để giết chúng.Nếu cậu quyết định rời bỏ chúng, chúng sẽ phải chịu đựng.
Gió bắt đầu mạnh. Cậu biết loại gió này: chúng được người ta gọi là gió Địa Trung Hải vì những người Moors đã theo chúng đến từ cuối phía Đông Địa Trung Hải.

Gió Địa Trung Hải thổi mạnh hơn. Ta ở đây, giữa bầy cừu và kho báu, cậu nghĩ. Cậu phải chọn giữa một thứ cậu đã quen thuộc và một thứ mà cậu muốn có. Ngoài ra cũng có cả cô gái con người thương gia, nhưng cô không quan trọng bằng bầy cừu của cậu, bởi vì cô không lệ thuộc vào cậu. Có lẽ cô thậm chí còn không nhớ đến cậu. Cậu khá chắc rằng không khác lắm việc ngày nào cậu xuất hiện trước mặt cô: với cô, mỗi ngày đều giống nhau, và khi mỗi ngày qua đi đều giống như những ngày sắp tới, đó là do con người quên mất cách nhận ra điều tốt đẹp xảy ra trong cuộc đời của họ vào mỗi ngày khi mặt trời mọc.

Ta đã bỏ bố, mẹ và thị trấn với lâu đài đằng sau. Họ đã quen với việc ta luôn đi xa, và ta cũng thế. Bọn cừu rồi cũng sẽ quen với việc ta không có mặt ở đó. Cậu nghĩ.

Từ nơi cậu ngồi, cậu có thể quan sát quảng trường. Mọi người tiếp tục đến và đi vào tiệm bánh. Một cặp trẻ tuổi ngồi ngay ghế mà cậu từng ngồi với ông già. Và họ hôn nhau.

“Người thợ làm bánh đó…” cậu nói với bản thân, nhưng bỏ nửa chừng suy nghĩ. Gió Địa Trung Hải vẫn đang thổi mạnh lên, và cậu cảm giác được sức gió trên mặt. Ngọn gió này đã đưa người Moors đến, đúng, nhưng nó cũng mang đến hương của sa mạc và các cô gái che mặt. Nó mang trong mình hương vị ngọt ngào và mơ ước của những người đã từng rời bỏ để tìm kiếm thứ chưa biết, và vàng, và các chuyến phiêu lưu – và những kim tự tháp. Cậu cảm thấy ghen tị sự tự do của ngọn gió, và thấy rằng cậu cũng có thể có được sự tự do như vậy. Không có gì giữ cậu lại ngoài chính bản thân cậu. Lũ cừu, cô gái con người thương gia, và vùng cỏ của Andalusia chỉ là những bước trên con đường đến định mệnh của cậu.

**

(còn tiếp)

The Alchemist – Nhà giả kim (p7)

“Ta là vua của Salem”, ông già nói.

“Tại sao một vị vua lại nói chuyện với một người chăn cừu?” Cậu nói, ngạc nhiên cực độ và xấu hổ.

“Vì rất nhiều lý do. Nhưng chúng ta hãy nói điều quan trọng nhất là cậu đã thành công tìm ra số mệnh của mình.”

Cậu không hiểu “số mệnh” của một người là gì.

“Đó là điều mà cậu luôn muốn đạt được. Mỗi người, khi họ còn trẻ, họ biết số mệnh của mình là gì.

Vào thời điểm đó trong đời, mọi thứ rõ ràng và mọi thứ đều có khả năng xảy ra. Họ không ngại mơ ước, và khao khát mọi thứ họ muốn xảy ra trong cuộc đời của họ. Nhưng khi thời gian trôi qua, một lực bí ẩn đã bắt đầu thuyết phục họ rằng họ không thể thực hiện được số mệnh của cuộc đời mình.”

Cậu không hiểu lắm những gì ông già nói. Nhưng cậu muốn biết “lực bí ẩn” đó là gì; cô gái con người thương gia chắc chắn sẽ bị ấn tượng khi cậu kể cô nghe về nó!

“Đó là lực xuất hiện mang đầy vẻ tiêu cực, nhưng thực tế giúp cậu hiện thực hóa số mệnh của mình. Nó giúp cậu chuẩn bị tinh thần và ý chí bởi vì có một sự thật vĩ đại trên hành tinh này: bất kể cậu là ai, hoặc bất kể cậu làm gì, khi cậu thực sự muốn điều gì đó, chính nó là mong mỏi xuất phát từ tinh thần của vũ trụ. Đó là sứ mạng của cậu trên trái đất này.”

“Ngay cả khi tất cả những gì ta muốn là đi chu du? Hay là cưới con gái của một người thương gia bán vải?”

“Đúng thế, hoặc ngay cả việc tìm kiếm kho báu. Tinh thần của Vũ trụ được nuôi dưỡng bởi hạnh phúc của con người. Cũng như là sự buồn bã, ganh ghét và ghen tị. Để nhận ra được số mệnh của một người chính là bổn phận duy nhất thực sự của người đó. Tất cả mọi thứ chỉ là một.

Và khi cậu muốn điều gì đó, cả vũ trụ sẽ âm mưu giúp cậu đạt được điều đó.”

Họ đều im lặng một lúc, quan sát quảng trường và những người trong thị trấn. Ông già là người nói trước.

“Tại sao cậu lại đi chăm nom một đàn cừu?”

“Bởi vì tôi thích đi chu du.”

Ông lão chỉ một người chủ tiệm bánh đứng sau cửa kính cửa hàng của mình, nằm ở một góc của quảng trường. “Khi anh ta còn là một đứa bé, người đàn ông kia cũng muốn đi chu du. Nhưng anh ta quyết định trước tiên phải mua được cửa hàng bán bánh và để dành tiền sang một bên. Khi anh ta trở thành một ông già, anh ta sẽ đi châu Phi một tháng. Anh ta chưa bao giờ nhận ra mọi người đều có khả năng, ở bất kì thời điểm nào trong đời, làm điều mà họ mơ ước.”

“Anh ta nên quyết định trở thành một người chăn cừu.” Cậu nói.

“Chà, anh ta có nghĩ về điều đó”, ông cụ trả lời. “Nhưng một chủ tiệm bánh thì quan trọng hơn là một người chăn cừu. Chủ tiệm bánh có nhà cửa, trong khi người chăn cừu thì phải ngủ ở ngoài đường. Cha mẹ muốn con cái của họ lấy một người chủ tiệm bánh hơn là một người chăn cừu.”

Cậu cảm thấy một cú đấm vào trái tim, khi cậu nghĩ về cô gái con người thương gia. Chắc chắn là thị trấn của cô có người làm chủ tiệm bánh.

Ông già nói tiếp. “Về lâu dài, chuyện mọi người nghĩ về một người chăn cừu và một chủ tiệm bánh trở nên quan trọng hơn chính số mệnh của họ.”

Ông già lật cuốn sách và chăm chú vào một trang ông mở phải. Cậu chờ, và rồi ngắt ngang ông già như cậu đã từng bị ngắt ngang. “Tại sao ông lại nói với tôi tất cả những chuyện này?”

“Bởi vì cậu đang cố gắng thực hiện số mệnh của cậu. Và cậu đang ở thời điểm mà cậu muốn từ bỏ tất cả.”

“Và đó luôn là bối cảnh cho lúc ông xuất hiện sao?”

“Không phải lúc nào cũng theo kiểu này, nhưng ta luôn xuất hiện ở dạng này hay dạng khác. Thỉnh thoảng ta xuất hiện dưới dạng một giải pháp, hoặc là một ý tưởng tốt. Ở những lần khác, vào một thời điểm quyết định, ta khiến mọi thứ xảy ra dễ dàng hơn. Ta còn làm những chuyện khác nữa, nhưng đa số thời gian mọi người không nhận ra ta đã làm những điều đó.”

Ông già liên hệ đến chuyện một tuần trước, ông đã bị buộc phải xuất hiện trước mặt một người thợ mỏ, và ông ở dưới dạng một hòn đá. Người thợ mỏ đã từ bỏ tất cả để đi đào ngọc lục bảo. Trong năm năm, anh ta làm việc ở một dòng sông cố định, và đã kiểm tra hàng trăm ngàn viên đá để tìm ra ngọc lục bảo. Người thợ mỏ đã sắp từ bỏ tất cả đến nơi, ngay vào thời điểm mà, nếu anh ta kiểm tra thêm chỉ một hòn đá nữa thôi – chỉ thêm đúng một – anh ta sẽ tìm thấy ngọc. Vì người thợ mỏ đã hy sinh mọi thứ cho số mệnh của anh ta, ông già quyết định ra tay. Ông biến mình thành một hòn đá lăn đến chân của người thợ mỏ. Người thợ, với tất cả sự giận dữ và thất vọng cho năm năm vô ích của mình, nhặt lấy hòn đá và ném nó đi. Nhưng anh ta đã ném với một lực khiến cho hòn đá làm vỡ viên đá nó rơi trúng. Và ở đó, lẫn trong viên đá bị bể, là viên ngọc lục bảo đẹp nhất trên thế giới.

“Con người học, từ rất sớm trong cuộc đời, điều gì là nguyên do họ sống”, ông già nói với một sự cay đắng, “có thể đó cũng là lý do khiến họ từ bỏ nó quá sớm. Nhưng đó là cách mà mọi thứ được sắp đặt.”

***

(còn tiếp)