Sacred economics (13)

(Mình sẽ giữ cả tiếng Anh và Việt để mọi người cùng đối chiếu với mình. Nhờ các bạn góp ý giúp, đặc biệt là đoạn chữ màu xanh lá).

Tham lam có thể hiểu được trong hoàn cảnh thiếu thốn. Hệ tư tưởng thống trị chúng ta giả định rằng: nó được xây dựng trong Câu chuyện về Cái tôi của chúng ta. Cái tôi riêng biệt trong một vũ trụ bị chi phối bởi các thế lực thù địch hoặc lãnh đạm luôn ở bên bờ tuyệt chủng, và chỉ an toàn đến mức có thể kiểm soát các lực lượng này. Đúc thành một vũ trụ khách quan bên ngoài chính chúng ta, chúng ta phải cạnh tranh với nhau vì nguồn lực hạn chế.

Dựa vào câu chuyện Cái Tôi riêng biệt, lòng tham đã từ đó được viết vào tiên đề cơ bản cả trong sinh học và kinh tế học. Trong sinh học, gen tìm cách tối đa hóa lợi ích sinh sản; trong kinh tế, đó là nhân tố đang tìm cách tối đa hóa lợi ích tài chính. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu giả định về sự khan hiếm là sai – (nếu nó chỉ là) một phản chiếu về ý thức hệ của chúng ta, và không phải là thực tế cuối cùng? Nếu vậy, lòng tham không ở trong (bộ gen) sinh học của chúng ta mà chỉ đơn thuần là một triệu chứng của nhận thức về sự khan hiếm.

Based on the story of the separate self, both biology and economics have therefore written greed into their basic axioms. In biology it is the gene seeking to maximize reproductive self-interest; in economics it is the rational actor seeking to maximize financial self-interest. But what if the assumption of scarcity is false—a projection of our ideology, and not the ultimate reality? If so, then greed is not written into our biology but is a mere symptom of the perception of scarcity.

Một chỉ dấu rằng lòng tham phản ánh nhận thức hơn là thực tế của sự khan hiếm là những người giàu thường có vẻ ít rộng lượng hơn là người nghèo. Theo kinh nghiệm của tôi, những người nghèo thường cho mượn hay cho nhau những khoản nhỏ mà, tính theo tỉ lệ, sẽ tương đương một nửa giá trị của một người giàu. Nghiên cứu mở rộng đã khẳng định nhận định này. Một khảo sát lớn năm 2002 do Tổ chức Độc lập (Independent Sector), một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận, đã cho thấy người Mỹ kiếm ít hơn 25.000 đô là cho 4,2% thu nhập cho từ thiện, đối với 2,7% đối với người kiếm hơn 100.000 đô la. Gần đây hơn, Paul Piff, một nhà tâm lý học xã hội tại trường ĐH California-Berkeley, chỉ ra “những người có thu nhập ít hơn thường rộng lượng, từ thiện, tin tưởng và giúp đỡ người khác hơn là những người giàu có hơn”14 Piff đã phát hiện khi các chủ đề nghiên cứu cho tiền để một người chia ấn danh giữa họ và đối tác (người sẽ không bao giờ biết người kia là ai), sự hào phóng của họ sẽ tương quan nghịch với tình trạng kinh tế xã hội của họ.15

An indication that greed reflects the perception rather than the reality of scarcity is that rich people tend to be less generous than poor people. In my experience, poor people quite often lend or give each other small sums that, proportionally speaking, would be the equivalent of half a rich person’s net worth. Extensive research backs up this observation. A large 2002 survey by Independent Sector, a nonprofit research organization, found that Americans making less than $25,000 gave 4.2 percent of their income to charity, as opposed to 2.7 percent for people making over $100,000. More recently, Paul Piff, a social psychologist at University of California–Berkeley, found that “lower-income people were more generous, charitable, trusting and helpful to others than were those with more wealth.”14 Piff found that when research subjects were given money to anonymously distribute between themselves and a partner (who would never know their identity), their generosity correlated inversely to their socioeconomic status.15

Khi có thể kết luận từ nghiên cứu này rằng người tham lam sẽ trở nên giàu có, một diễn giải tương đồng là giàu có sẽ khiến con người tham lam. Tại sao lại thế? Trong hoàn cảnh giàu có, tham lam là ngớ ngẩn, chỉ có trong hoàn cảnh thiếu thốn thì nó mới hợp lý. Người giàu nhận thức về sự khan hiếm ở nơi không có (sự khan hiếm). Họ cũng thường lo lắng hơn người khác về vấn đề tiền bạc. Có thể là do bản thân tiền đã gây ra nhận thức về sự khan hiếm? Có thể nào là tiền bạc, gần như đồng nghĩa với sự an toàn, mỉa mai thay, đã mang đến điều ngược lại? Câu trả lời cho cả hai câu hỏi này là đúng vậy. Ở cấp độ cá nhân, người giàu có nhiều hơn để “đầu tư” tiền của họ và ít khả năng cho đi hơn. (Cho đi dễ dàng phản ánh thái độ của sự giàu có). Ở cấp độ hệ thống, như chúng ta sẽ thấy, sự khan hiếm cũng được xây dựng thành tiền, một kết quả trực tiếp của cách nó được sinh ra và lưu thông.

While it is tempting to conclude from this that greedy people become wealthy, an equally plausible interpretation is that wealth makes people greedy. Why would this be? In a context of abundance greed is silly; only in a context of scarcity is it rational. The wealthy perceive scarcity where there is none. They also worry more than anybody else about money. Could it be that money itself causes the perception of scarcity? Could it be that money, nearly synonymous with security, ironically brings the opposite? The answer to both these questions is yes. On the individual level, rich people have a lot more “invested” in their money and are less able to let go of it. (To let go easily reflects an attitude of abundance.) On the systemic level, as we shall see, scarcity is also built in to money, a direct result of the way it is created and circulated.

Việc coi khan hiếm là một trong hai tiền đề trung tâm của nền kinh tế (cái thứ hai là việc mọi người, một cách tự nhiên, tìm cách tối đa hóa lợi ích hợp lý của mình). Cả hai đều sai, hoặc chính xác hơn, chúng thực sự chỉ đúng trong một cõi hẹp, một cõi mà chúng ta là con ếch ở đáy giếng, nhầm lẫn về toàn bộ thực tại. Và thường là thế, những gì chúng ta coi là sự thật khách quan thực ra là một phản chiếu về tình trạng của chính chúng ta lên thế giới “khách quan”. Quá đắm chìm trong sự khan hiếm là chúng ta, điều mà chúng ta coi đó là bản chất của thực tế. Nhưng trên thực tế, chúng ta sống trong một thế giới phong phú. Sự khan hiếm ở khắp nơi mà chúng ta trải nghiệm là một vật nhân tạo: của hệ thống tiền bạc, về chính trị và nhận thức của chúng ta.

The assumption of scarcity is one of the two central axioms of economics. (The second is that people naturally seek to maximize their rational self-interest.) Both are false; or, more precisely, they are true only within a narrow realm, a realm that we, the frog at the bottom of the well, mistake for the whole of reality. As is so often the case, what we take to be objective truth is actually a projection of our own condition onto the “objective” world. So immersed in scarcity are we that we take it to be the nature of reality. But in fact, we live in a world of abundance. The omnipresent scarcity we experience is an artifact: of our money system, of our politics, and of our perceptions.

Như chúng ta sẽ thấy, hệ thống tiền bạc, hệ thống sở hữu và hệ thống kinh tế chung của chúng ta phản ánh cùng cảm nhận cơ bản về cái tôi, được xây đắp lên từ nhận thức của sự khan hiếm. Đây là “cái tôi rời rạc và tách biệt”, cái tôi Tâm trí (Cartesian self): một bòng bong tâm lý bị vùi dập trong một vũ trụ lãnh đạm, tìm cách sở hữu, kiểm soát, kiêu ngạo càng nhiều tài sản càng tốt, nhưng bị tố cáo trước thất bại do điểm giới hạn cuối cùng từ sự giàu có của bản thể kết nối với kinh nghiệm không bao giờ đủ đầy. Sự khẳng định rằng chúng ta sống trong một thế giới phong phú đôi khi gây ra một phản ứng cảm xúc, gần với sự thù địch, với những độc giả tin rằng con người cùng chung sống hài hòa với phần còn lại của cuộc sống là không thể nếu không giảm một lượng lớn dân số. Họ trích dẫn “Đỉnh dầu” và sự cạn kiệt tài nguyên, sự nóng lên toàn cầu, sự cạn kiệt của đất nông nghiệp và dấu chân sinh thái của chúng ta là bằng chứng cho thấy trái đất không thể hỗ trợ nền văn minh công nghiệp ở mức độ dân số hiện nay.

As we shall see, our money system, system of ownership, and general economic system reflect the same fundamental sense of self that has, built into it, the perception of scarcity. It is the “discrete and separate self,” the Cartesian self: a bubble of psychology marooned in an indifferent universe, seeking to own, to control, to arrogate as much wealth to itself as possible, but foredoomed by its very cutoff from the richness of connected beingness to the experience of never having enough. The assertion that we live in a world of abundance sometimes provokes an emotional reaction, bordering on hostility, in those of my readers who believe that harmonious human coexistence with the rest of life is impossible without a massive reduction in population. They cite Peak Oil and resource depletion, global warming, the exhaustion of our farmland, and our ecological footprint as evidence that the earth cannot long support industrial civilization at present population levels.

Cuốn sách này cung cấp phản hồi cho sự lo ngại trên như là một phần viễn cảnh của nền kinh tế linh thiêng. Quan trọng hơn, nó còn chỉ ra các câu hỏi “làm thế nào” – ví dụ: làm thế nào để chúng ta có thể đạt được điều đó từ vị trí hiện tại. Bây giờ tôi sẽ đưa ra một phần hồi đáp, một lý do để hy vọng. Đúng là hoạt động của con người ngày nay đang làm quá tải mức chịu đựng của trái đất. Nhiên liệu hóa thạch, tầng nước ngầm, lớp đất mặt, khả năng hấp thụ ô nhiễm và các hệ sinh thái duy trì khả năng tồn tại của bầu sinh quyển đều bị cạn kiệt ở mức báo động. Tất cả các đo lường đặt trên bàn quá nhỏ bé, quá trễ – chỉ là giọt nước trong xô so với những gì cần thiết. Mặt khác, một tỷ lệ khổng lồ của hoạt động này của con người là thừa thãi hoặc có hại cho hạnh phúc của con người.

This book offers a response to this concern as part of a vision of a sacred economy. More importantly, it addresses the “how” questions as well—for example, how we will get to there from here. For now I will offer a partial response, a reason for hope. It is true that human activity is vastly overburdening the earth today. Fossil fuels, aquifers, topsoil, the capacity to absorb pollution, and the ecosystems that maintain the viability of the biosphere are all being depleted at an alarming rate. All the measures on the table are far too little, far too late—a drop in the bucket compared to what is needed. On the other hand, an enormous proportion of this human activity is either superfluous or deleterious to human happiness. 

Trước tiên hãy xem xét ngành công nghiệp vũ khí và tài nguyên tiêu thụ trong chiến tranh: khoảng 2 nghìn tỷ đô la mỗi năm, một cơ sở khoa học rộng lớn và năng lượng sống của hàng triệu người trẻ, tất cả để phục vụ không cần ngoại trừ một thứ chúng ta tự tạo ra. Xem xét nền công nghiệp nhà đất (không phải bất động sản – ND) tại đây trên đất Mỹ, với lượng khổng lồ những căn nhà McMansions trong 2 thập kỷ qua một lần nữa không thực sự phục vụ cho nhu cầu của con người. Tại một số quốc gia, một tòa nhà với kích thước đó có thể chứa được 50 người. Như thực tế, các căn phòng rộng lớn không được sử dụng, làm con người cảm thấy không thoải mái với mức độ rộng lớn quá mức cho con người và đành tìm kiếm sự thoải mái trong góc nhỏ và chỗ ăn uống ấm cúng. Các vật liệu, năng lượng và việc bảo trì các quái vật như vậy thật lãng phí tài nguyên. Có lẽ còn lãng phí hơn nữa là cách bố trí vùng ngoại ô, điều làm cho giao thông công cộng khó khăn và khiến lượng lái xe không phù hợp.

Consider first the armaments industry and the resources consumed in war: some $2 trillion dollars a year, a vast scientific establishment, and the life energy of millions of young people, all to serve no need except one we create ourselves. Consider the housing industry here in the United States, with the enormous McMansions of the last two decades that again serve no real human need. In some countries a building that size would house fifty people. As it is, the cavernous living rooms go unused, for people feel uncomfortable in their inhuman scale and seek out the comfort of the small den and the breakfast nook. The materials, energy, and maintenance of such monstrosities are a waste of resources. Perhaps even more wasteful is the layout of suburbia, which makes public transportation impossible and necessitates inordinate amounts of driving.

Xem xét ngành công nghiệp thực phẩm, lượng bỏ phí rất lớn ở bất kỳ cấp độ nào. Theo một nghiên cứu của chính phủ (Hoa Kỳ – ND), thất thoát từ trang trại-đến-bán lẻ vào khoảng 4 phần trăm, bán lẻ-đến-người tiêu dùng thất thoát 12 phần trăm, và thất thoát tại nơi người tiêu dùng là 29 phần trăm.16 Hơn thế nữa, lượng lớn đất nông nghiệp được dành cho sản xuất nhiên liệu sinh học, và nông nghiệp cơ giới hóa giới hạn công sức lao động thâm canh và các kỹ thuật sản xuất thâm canh khác có thể làm tăng năng suất rất lớn.17
Consider the food industry, which exhibits massive waste at every level. According to a government study, farm-to-retail losses are about 4 percent, retail-to-consumer losses 12 percent, and consumer-level losses 29 percent. 16 Moreover, vast tracts of farmland are devoted to biofuel production, and mechanized agriculture precludes labor-intensive intercropping and other intensive production techniques that could vastly increase productivity.17

14 Warner, “The Charitable-Giving Divide.”

15 Piff et al., “Having Less, Giving More.”

16 Buzby et al., “Supermarket Loss Estimates.”

17 Bạn có thể hiểu thêm về tiềm năng nông nghiệp chưa được khai thác bằng cách đọc cuốn sách hấp dẫn (xuất bản) năm 1911 của F. H. King, cuốn sách” Nông dân của bốn mươi thế kỷ”; hoặc, “Nông nghiệp Dài lâu ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản”, chúng giải thích làm thế nào các khu vực này duy trì dân số khổng lồ trong nhiều thiên niên kỷ trên một lượng đất nhỏ, không có cơ giới hóa, thuốc trừ sâu hoặc phân bón hóa học. Thay vào đó, họ dựa vào luân canh cây trồng, trồng xen và các mối quan hệ sinh thái giữa các cây trồng, động vật và con người. Họ không lãng phí gì, kể cả phân người. Nông nghiệp của họ cực kỳ tốn nhiều công sức, mặc dù, theo King, nó thường được tiến hành với tốc độ nhàn nhã. Năm 1907, năm mươi triệu người Nhật Bản gần như tự túc về thực phẩm; đất của Trung Quốc củng cố (điều này), ở một số vùng, các nhóm gồm bốn mươi hoặc năm mươi người trong một trang trại rộng ba mẫu; vào năm 1790, dân số Trung Quốc đã tương đương với dân số Hoa Kỳ ngày nay!
You can get some idea of the untapped potential of agriculture by reading F. H. King’s fascinating 1911 book, Farmers of Forty Centuries; Or, Permanent Agriculture in China, Korea, and Japan, which explains how these regions sustained enormous populations for millennia on tiny amounts of land, without mechanization, pesticides, or chemical fertilizers. Instead, they relied on sophisticated crop rotation, interplanting, and ecological relationships among farm plants, animals, and people. They wasted nothing, including human manure. Their farming was extremely labor-intensive, although, according to King, it was usually conducted at a leisurely pace. In 1907 Japan’s fifty million people were nearly self-sufficient in food; China’s land supported, in some regions, clans of forty or fifty people on a three-acre farm; in the year 1790 China’s population was about the same as that of the United States today!

Sacred Economics (12)

Chương 2: Ảo ảnh của sự khan hiếm

Tiền thưởng không suy giảm, đất đai nước Anh nở rộ và phát triển; vẫy chào mùa gặt vàng; dày đặc các xưởng, dụng cụ công nghiệp, với mười lăm triệu công nhân, được hiểu là những người khỏe nhất, xảo quyệt nhất và sẵn sàng nhất mà Trái đất chúng ta từng có; những người đàn ông này đang ở đây; họ đã làm việc, họ đã nhận ra hoa trái là ở đây, dồi dào, háo hức trên mỗi bàn tay của chúng ta: và coi chừng, một số kẻ uy quyền ác ý từ Miền Quyến rũ (as of Enchantment) đã tiến ra, nói rằng, “Đừng có mà đụng vào nó, những kẻ làm công, những kẻ chủ công, những kẻ lười biếng bậc thầy (master-idlers); trong các người không ai có thể chạm vào nó, trong các người không ai xứng đáng hơn ai với nó; đây là trái cây đã được bỏ bùa mê!

– Thomas Carlyle, Quá khứ và Hiện tại

Người ta nói rằng tiền, hoặc ít nhất là tình yêu với nó, là gốc rễ của mọi tội lỗi. Nhưng tại sao lại như vậy? Rốt cuộc, mục đích của tiền, cơ bản nhất, chỉ đơn giản là để tạo điều kiện trao đổi với nhau, nói cách khác là kết nối những món quà của con người với nhu cầu của con người. Sức mạnh nào, sự đồi trụy quái dị nào đã biến tiền thành điều ngược lại: một tác nhân của sự khan hiếm?
Vì thực sự chúng ta đang sống trong một thế giới về cơ bản là dồi dào, một thế giới nơi mà một lượng lớn thực phẩm, năng lượng và vật liệu bị lãng phí. Một nửa thế giới chết đói trong khi phần lãng phí của nửa còn lại đủ để nuôi nửa đầu. Ở thế giới thứ ba và các khu ổ chuột của chúng ta, mọi người thiếu thức ăn, chỗ ở và các nhu yếu phẩm cơ bản khác và không đủ khả năng để mua chúng. Trong khi đó, chúng ta đổ tài nguyên khổng lồ vào các cuộc chiến tranh, rác nhựa và vô số các sản phẩm khác không phục vụ hạnh phúc của con người. Rõ ràng, nghèo không phải do thiếu năng lực sản xuất. Cũng không phải do thiếu sự sẵn lòng giúp đỡ: nhiều người rất thích nuôi người nghèo, phục hồi thiên nhiên và làm những việc có ý nghĩa khác nhưng không thể vì không có tiền trong đó. Tiền hoàn toàn không kết nối quà tặng và nhu cầu. Tại sao?
Trong nhiều năm, xuôi theo ý kiến ​​thông thường, tôi nghĩ câu trả lời là tham lam. Tại sao các nhà máy sản xuất mồ hôi đẩy tiền lương xuống mức tối thiểu? Tham lam. Tại sao mọi người mua những chiếc SUV (xe thể thao tiện ích) ngốn hàng đống xăng? Tham lam. Tại sao các công ty dược phẩm ngăn chặn nghiên cứu và bán thuốc mà họ biết là nguy hiểm? Tham lam. Tại sao các nhà buôn cá nhiệt đới cho nổ rạn san hô? Tại sao các nhà máy bơm chất thải độc hại ra sông? Tại sao các công ty lẳng lặng cướp tiền lương hưu của nhân viên? Tham lam, tham lam, tham lam.
Cuối cùng tôi trở nên khó chịu với câu trả lời đó. Vì một điều, nó đóng vai trò trong cùng một hệ tư tưởng của sự tách biệt nằm ở gốc rễ của nền văn minh của chúng ta. Đó là một hệ tư tưởng lâu đời như sự phân chia nông nghiệp của thế giới thành hai cõi riêng biệt: hoang dã và thuần hóa, con người và tự nhiên, lúa mì và cỏ dại. Nó nói rằng có hai thế lực đối lập trong thế giới này, thiện và ác và chúng ta có thể tạo ra một thế giới tốt hơn bằng cách loại bỏ cái ác. Có một cái gì đó xấu trong thế giới và một cái gì đó xấu trong chính chúng ta, một cái gì đó chúng ta phải tuyệt chủng để làm cho thế giới an toàn cho sự tốt đẹp.
Cuộc chiến chống lại cái ác thấm nhuần mọi thể chế của xã hội chúng ta. Trong nông nghiệp, nó xuất hiện như mong muốn tiêu diệt những con sói, tiêu diệt tất cả các loại cỏ dại bằng glyphosate, để tiêu diệt tất cả các loài gây hại. Trong y học, đó là cuộc chiến chống lại vi trùng, một cuộc chiến không ngừng chống lại một thế giới thù địch. Trong tôn giáo, đó là cuộc đấu tranh chống lại tội lỗi, hoặc chống lại bản ngã, hoặc chống lại sự vô tín hay nghi ngờ, hoặc chống lại sự phóng chiếu ra bên ngoài của những điều này: ma quỷ, kẻ vô đạo. Đó là tâm lý của thanh lọc và thanh trừng, cải thiện bản thân và chinh phục, vươn lên trên tự nhiên và khao khát siêu việt, hy sinh bản thân để trở nên tốt đẹp.
Trên hết, đó là tâm lý của sự kiểm soát.

Người ta nói rằng một khi đạt được chiến thắng cuối cùng trước cái ác, chúng ta sẽ bước vào thiên đường. Khi chúng ta loại bỏ tất cả những kẻ khủng bố và tạo ra rào cản mà chúng không thể xuyên thủng, chúng ta sẽ được an toàn. Khi chúng ta phát triển một loại kháng sinh và các quy định nhân tạo (? – artificial regulation) không thể cưỡng lại của các quá trình trong cơ thể, chúng ta sẽ có một sức khỏe hoàn hảo. Khi chúng ta khiến việc pham tội là bất khả và có luật pháp để quản lý mọi thứ, chúng ta sẽ có một xã hội hoàn hảo. Khi bạn chiến thắng được sự lười biếng, sự ép buộc, sự nghiện ngập của mình, bạn sẽ có một cuộc sống hoàn hảo. Cho đến khi đó, bạn sẽ phải cố gắng nhiều hơn.

Trong cùng một câu chuyện, vấn đề trong đời sống kinh tế được cho là tham lam, ở cả bên ngoài chúng ta dưới dạng những người tham lam và bên trong chính chúng ta dưới dạng xu hướng tham lam của chính bản thân mình. Chúng ta thích tưởng tượng rằng chúng ta không tham lam lắm đâu – có thể chúng ta có một chút dao động về tham lam, nhưng chúng ta kiểm soát được nó. Không như một vài người kia! Một vài người không giữ được tham lam ở mức kiếm soát được. Họ thiếu những nền tảng gì đó mà bạn và tôi có, một mức độ cơ bản đàng hoàng, mức độ cơ bản tốt. Họ, nói một từ thôi, Xấu. Nếu họ không học được cách kiềm chế ham muốn của mình để giảm sự tham lam, chúng ta sẽ phải buộc họ làm điều đó.
Rõ ràng là, mô thức của lòng tham đầy rẫy sự phán xét người khác, và cả phán xét bản thân mình nữa. Sự giận dữ chính đáng và thù hằn của chúng ta về lòng tham mở ra một nỗi sợ bí mật rằng chúng ta cũng chẳng hơn gì họ. Kẻ đạo đức giả là người nhiệt thành nhất trong cuộc đàn áp cái ác. Quy chiếu hóa kẻ thù ra bên ngoài thể hiện cảm xúc giận dữ chưa được hóa giải. Theo một cách nào đó, đây là một điều cần thiết: hậu quả của việc dồn nén chúng hoặc hướng vào bên trong là khủng khiếp. Đã có một khoảng thời gian trong cuộc đời tôi khi tôi trải qua cảm giác ghét bỏ, đi qua cuộc chiến với chính bản thân, qua cuộc vật lộn để trở nên tốt đẹp, và trải qua sự giả vờ rằng tôi tốt hơn bất kỳ ai khác. Tôi tin rằng nhân loại, nhìn chung, hầu hết cũng có khoảng thời gian như vậy. Cuối cùng, lòng tham là một con cá trích đỏ, bản thân nó là một triệu chứng và không phải là nguyên nhân của một vấn đề sâu sắc hơn. Đổ lỗi cho lòng tham và chống lại nó bằng cách tăng cường chương trình tự kiểm soát là tăng cường chiến tranh chống lại bản thân. Đó chỉ là một biểu hiện khác của cuộc chiến chống lại tự nhiên và cuộc chiến chống lại kẻ khác nằm ở nền tảng cuộc khủng hoảng hiện nay của nền văn minh.

Lòng tham có ý nghĩa trong bối cảnh khan hiếm. Hệ tư tưởng trị vì của chúng ta giả định ra nó và (nó) được xây dựng trong Câu chuyện về Cái tôi (Self). Cái tôi riêng biệt trong một vũ trụ bị bủa vây bởi các thế lực thù địch hoặc lãnh đạm luôn ở bên bờ tuyệt chủng, và chỉ an toàn khi có thể kiểm soát các lực lượng này. Vun đúc vào một vũ trụ khách quan bên ngoài chính mình, chúng ta phải cạnh tranh với nhau vì nguồn lực hạn chế.

Dựa trên câu chuyện về cái tôi riêng biệt, cả sinh học và kinh tế vì thế đã viết lòng tham vào các tiên đề cơ bản của chúng. Trong sinh học, đó là gen tìm cách tối đa hóa lợi ích sinh sản; trong kinh tế, đó là việc hợp lý khi một diễn viên đang tìm cách tối đa hóa lợi ích tài chính của mình. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu giả định về sự khan hiếm sai – là dự đoán của ý thức hệ mà không phải là thực tế cuối cùng? Nếu vậy, lòng tham không phải thuộc bản chất sinh học của chúng ta mà chỉ là một triệu chứng đơn thuần của nhận thức về sự khan hiếm?

(còn tiếp)

Sacred Economics (12)

Mỗi sinh vật và giống loài có những đóng góp quan trọng cho tổng sự sống trên trái đất, và sự đóng góp này, trái ngược với kỳ vọng tiến hóa tiêu chuẩn sinh học, không cần có lợi ích trực tiếp nào cho bản thân nó. Vi khuẩn điều chỉnh Nitơ không trực tiếp hưởng lợi từ việc nó làm, trừ việc nó tặng Nitơ giúp đất trồng được loại cây có rễ giúp nấm phát triển, và đó cũng chính là loại nấm tối ưu để cung cấp dinh dưỡng cho loài của nó. Các loài tiên phong dọn đường cho các loài cột mốc, cung cấp các ngõ ngách cho sự phát triển các loài khác, những loại này lại là thức ăn cho các loài khác trong mạng lưới quà tặng mà dần dà (món quà) quay trở lại với các loài tiên phong (loài trao tặng ban đầu – ND). Cây lớn giữ nước để có nước cho các loại cây nhỏ, và tảo tạo oxy để các loài động vật có thể thở được. Nếu loại bỏ bất kỳ loài nào, sức khỏe của tất cả trở nên bấp bênh.

Bạn có thể nghĩ là tôi ngây thơ, với cái lý luận “vậy thì”. Bạn có thể nói mọi việc đơn giản là may mắn vì mọi thứ đã diễn ra rất tốt đẹp: cây không cần quan tâm tới việc giữ nước cho các loài thực vật xung quanh, chúng (nước) ở bên trong cây để cho bản thân cây tối đa hóa cơ hội để sống và tái tạo sự sống. Rằng việc chúng nuôi dưỡng các loài khác là một tác động phụ không chủ ý. Điều tương tự với tảo, với vi khuẩn điều chỉnh Nitơ, hay vi khuẩn bên trong các động vật nhai lại để giúp chúng tiêu hóa xen-lu-lô. Thế giới này, bạn có thể nghĩ, mọi người vì chính mình. Thiên nhiên là một sự cạnh tranh không khoan nhượng, và một nền kinh tế cũng có cùng tính chất như vậy luôn.

Tôi không nghĩ điều đó là tự nhiên. Đó (cạnh tranh không khoan nhượng – ND) là lạc lối, một giai đoạn đặc biệt mặc dù cần thiết nhưng đã đạt đến cực điểm và đang nhường chỗ cho một giai đoạn mới. Trong tự nhiên, tăng trưởng lâu dài và cạnh tranh toàn diện là những đặc điểm của hệ sinh thái chưa trưởng thành, tiếp theo là sự phụ thuộc lẫn nhau phức tạp, sự cộng sinh, hợp tác và sự luân chuyển các nguồn lực. Giai đoạn tiếp theo của nền kinh tế (của con người) sẽ song song với những gì chúng ta đang bắt đầu hiểu về tự nhiên. Nó sẽ gợi ra những món quà của mỗi chúng ta; nó sẽ nhấn mạnh sự hợp tác hơn cạnh tranh; nó sẽ khuyến khích lưu thông hơn tích trữ; và nó sẽ theo chu kỳ, không chỉ là một đường thẳng đuột. Tiền có thể không sớm biến mất bất cứ lúc nào, nhưng vai trò của nó sẽ giảm dần ngay cả khi nó chiếm nhiều giá trị của món quà. Nền kinh tế sẽ thu hẹp, và cuộc sống của chúng ta sẽ phát triển.

Tiền như chúng ta biết, tương đương với một nền kinh tế thể hiện tinh thần của món quà, một nền kinh tế mà chúng ta có thể gọi là thiêng liêng. Để biết loại tiền nào có thể là một loại tiền thiêng liêng, việc xác định chính xác những gì làm cho tiền trở thành lực đẩy cho sự tham lam, xấu xa, khan hiếm và cướp bóc môi trường như ngày nay sẽ có ích cho chúng ta.
Giống như khoa học thường phản chiếu văn hóa vào tự nhiên,  kinh tế học lấy các điều kiện xác định về mặt văn hóa là tiên đề. Sống trong một nền văn hóa khan hiếm (vì sự khan hiếm là những gì chúng ta đang trải qua, khi mà “kiếm sống” quyết định sự biểu hiện của những món quà), chúng ta coi đó là nền tảng của kinh tế học. Như trong sinh học, chúng ta đã thấy thế giới là một cuộc cạnh tranh giữa các cá thể riêng biệt với các nguồn lực hạn chế. Hệ thống tiền của chúng ta, như chúng ta sẽ thấy, thể hiện niềm tin này ở mức độ sâu sắc, mang tính cấu trúc. Nhưng niềm tin này có đúng không? Chúng ta có sống trong một thế giới, trong một vũ trụ mà ở đó khan hiếm là điều cơ bản không? Còn nếu không, nếu bản chất thực sự của vũ trụ là phong phú và là quà tặng, thì làm sao tiền trở nên bất tự nhiên như vậy?

— hết chương 1

(còn tiếp)

 

Day 9 – Sacred Economics (9)

Những đồ vật vô dụng như vỏ ốc, chuỗi hạt xinh xắn, dây chuyền, và vân vân là những (đồng) tiền sớm nhất. Trao đổi chúng với một cái gì đó có giá trị thực dụng, nói một cách ngây thơ, chỉ là một cách để tặng quà, vì trong trao đổi đó có một bên được còn bên kia mất. Người ta cố làm nó cân bằng hơn, ai cũng mất và ai cũng được một thứ gì đó, nhưng điều này không khác việc tặng quà là bao. Bởi vì những thứ được đem ra trao đổi chỉ là hình thức của sự ràng buộc, một biểu hiện của sự biết ơn lẫn nhau. (bản dịch của Norah – cảm ơn bạn). Từ quan điểm này, bản sắc của mua và bán, vay mượn và cho vay mượn, là dễ hiểu. Chúng hoàn toàn không phải là các vận hành đối lập. Tất cả các món quà luân chuyển trở lại cho người tặng trong một hình thức khác. Người mua và người bán đều bình đẳng.

Ngày nay có sự bất cân xứng trong các giao dịch thương mại, trong đó xác định người mua là người đưa tiền và nhận hàng và người bán là người nhận tiền và đưa hàng. Nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng “người mua” là người bán tiền đang bán tiền và “người bán” là người đang mua tiền với hàng hóa. Bằng chứng ngôn ngữ học và nhân học chỉ ra rằng sự bất cân xứng này là mới, mới hơn nhiều so với tiền. Điều gì đã xảy ra với tiền, sau đó, để tạo ra sự bất cân xứng này? Tiền khác với mọi hàng hóa khác trên thế giới, và, như chúng ta sẽ thấy, chính sự khác biệt này rất quan trọng trong việc biến nó thành dung tục.

Mặt khác, bằng trực giác chúng ta nhận ra quà tặng là thiêng liêng, đó là lý do tại sao ngay cả ngày nay chúng ta vẫn làm lễ tặng quà. Quà tặng thể hiện những phẩm chất quan trọng của sự linh thiêng mà tôi đã thảo luận trong phần giới thiệu. Thứ nhất, tính độc đáo: không giống như các mặt hàng được tiêu chuẩn hóa ngày nay, mua bán trong các giao dịch đóng bằng tiền và xa lánh nguồn gốc của chúng, quà tặng là duy nhất theo phạm vi  chúng có phần tham gia của người tặng. Thứ hai, sự toàn vẹn, phụ thuộc lẫn nhau: quà tặng mở rộng vòng tròn của bản thân để bao gồm toàn bộ cộng đồng. Trong khi tiền ngày nay là hiện thân của nguyên tắc “Nhiều hơn đối với tôi là ít hơn đối với bạn”, trong một nền kinh tế quà tặng, nhiều hơn với bạn cũng nhiều hơn đối với tôi bởi vì những người đã cho những người cần. Quà tặng củng cố sự nhận thức thần bí về sự tham gia vào một điều gì đó lớn hơn chính bản thân họ, tuy nhiên, không tách rời khỏi chính mình. Các tiên đề của sự thay đổi lợi ích hợp lý bởi vì bản thân đã mở rộng để bao gồm cái gì đó của cái khác.

Giải thích thông thường về cách tiền phát triển mà người ta tìm thấy trong các văn bản kinh tế giả định việc đổi chác là điểm khởi đầu. Ngay từ đầu, các cá nhân cạnh tranh tìm cách tối đa hóa lợi ích cá nhân hợp lý của họ. Mô tả lý tưởng hóa này không được hỗ trợ bởi nhân học. Trao đổi, theo Mauss, là hiếm ở Polynesia, hiếm ở Melanesia, và chưa từng thấy ở Tây Bắc Thái Bình Dương. Nhà nhân học kinh tế George Dalton đồng tình một cách dứt khoát, “Trao đổi, theo nghĩa chặt chẽ của trao đổi không tiền, chưa bao giờ là mô hình hay giao dịch quan trọng về mặt định lượng trong bất kỳ hệ thống kinh tế nào trong quá khứ hay hiện tại mà chúng ta có thông tin vật lý (hard information).8 Các trường hợp duy nhất của hàng đổi hàng, theo Dalton, là cho các giao dịch nhỏ, không thường xuyên hoặc khẩn cấp, giống như trường hợp ngày nay. Bên cạnh đó, các giao dịch đơn thuần hiếm khi giống với các giao dịch không chính đáng, tối đa hóa tiện ích của các nhà kinh tế giả tưởng, nhưng thay vào đó, “xu hướng yêu cầu các mối quan hệ cá nhân lâu dài (và đôi khi được nghi thức hóa) bị trừng phạt bởi tùy chỉnh và đặc trưng bởi tính tương hỗ.” 9 Các giao dịch như vậy không nên được gọi là trao đổi, mà là trao đổi quà tặng theo nghi thức.

8 Dalton, “Barter,” (Trao đổi), trang 182.

9 Seaford, Money and the Early Greek Mind (Tiền và Đầu óc người Hy Lạp thời đầu), trang 292.

P.s: đúng ra hôm nay phải post phần 10, nhưng mà luxubu chưa dịch. 😐

Day 1 – Sacred Economics (1)

Từ hôm nay, mình sẽ cố gắng tập dịch lại. Mỗi ngày sẽ dịch 1 đoạn ngắn gì đó và đăng lên.

“Sacred economics” by Charles Einsteins

Kinh tế học linh thiêng
Tiền bạc, Quà tặng, và Xã hội trong Kỷ nguyên Chuyển dịch
Tác giả Charles Einsteins

(Từ tác giả: gửi tặng  cha mẹ của tôi và cho tất cả những ai đã cho tôi rất nhiều nhưng không hề nghĩ tới việc nhận lại)

Giới thiệu:

Mục đích của cuốn sách này là khiến việc kiếm tiền và nền kinh tế con người cũng linh thiêng như những điều khác trong vũ trụ này.
Ngày nay chúng ta liên hệ tiền bạc với sự dung tục, và vì lý do chính đáng. Nếu có gì linh thiêng trong thế giới, chắc chắn nó không phải là tiền. Tiền dường như là kẻ thù của bản năng tốt đẹp hơn của chúng ta, vì rõ là mỗi lần suy nghĩ “Ta không thể chi trả nổi để…” ngăn chặn động lực tiến tới sự tử tế và độ lượng. Tiền dường như là kẻ thù của cái đẹp, như thuật ngữ miệt thị “cháy hàng” đã thể hiện. Tiền dường như là kẻ thù của từng cải cách xã hội và chính trị có giá trị, khi quyền lực đoàn thể  thúc đẩy luật pháp hướng tới việc tăng cường lợi nhuận của chính nó. Tiền dường như đang hủy hoại thế giới, khi chúng ta cướp bóc các đại dương, rừng, đất và mọi loài để nuôi một lòng tham không biết kết thúc.
Từ ít nhất là thời gian Đức Giê-su ném những kẻ đổi tiền từ đền thờ, chúng ta đã có cảm nhận rằng có điều gì đó không linh thiêng về tiền. Khi các nhà chính trị gia tìm kiếm tiền thay vì điều tốt cho cộng đồng, chúng ta gọi đó là tham nhũng. Những danh từ như “dơ bẩn”, “nhớp nhúa” diễn tả tự nhiên về tiền bạc.
Các nhà sư được coi là không có nhiều thứ để làm với tiền “Bạn không thể phục vụ Thương đế và Thần Tiền tài (Mammon).”
Cùng lúc đó, không ai có thể chối cãi tiền cũng có một giá trị bí ẩn, thần kì, sức mạnh can thiệp vào cư xử của con người và điều phối hoạt động của con người. Từ thời cổ đại, những nhà tư tưởng đã ngạc nhiên trước khả năng một con dấu đơn thuần trao quyền lực này trên một đĩa kim loại hay một tờ giấy.
Bất hạnh thay, nhìn vào thế giới xung quanh chúng ta, thật là khó tránh khỏi kết luận phép thuật của tiền là phép thuật xấu xa.
Hiển nhiên là, nếu chúng ta biến tiền trở thành một điều gì đó linh thiêng, không gì hơn là cách mạng triệt để về tiền (wholesale revolution in money – cảm ơn Norah góp ý) sẽ đủ, một sự biến đổi về bản chất thiết yếu của nó. Không chỉ đơn thuần là thái độ của chúng ta về tiền phải thay đổi, như một số bậc thầy tự lực đã đang khiến chúng ta tin tưởng; thay vào đó, chúng ta sẽ tạo ra các kiểu tiền mới thể hiện và củng cố thái độ thay đổi. Kinh tế Linh thiêng  mô tả kiểu tiền mới này và nền kinh tế mới sẽ kết hợp xung quanh nó. Nó cũng khám phá sự biến hình trong bản sắc con người, điều vừa là nguyên nhân và kết quả của sự biến đổi về tiền này. Thái độ thay đổi của những điều tôi nói sẽ đi đến gốc lõi của điều gì là con người: Chúng bao gồm hiểu biết của chúng ta về mục đích cuộc sống, vai trò con người trên hành tinh, mối quan hệ của cá nhân với loài người và cộng đồng tự nhiên; thậm chí là điều gì là một cá thể, là một bản thể (a self). Sau cùng, chúng ta trải nghiệm tiền (và tài sản) và một phần mở rộng của bản thân chúng ta; do đó đại từ sở hữu “của tôi” để mô tả nó, cùng là đại từ chúng ta sử dụng để nhận ra các cánh tay và đầu của chúng ta. Tiền của tôi, xe của tôi, tay của tôi, thận của tôi. Xem xét cả về cảm giác xâm phạm của chúng ta, khi chúng ta bị cướp hay “cướp đoạt”, như thể là một phần của chính bản thân chúng ta bị lấy mất.
Một sự chuyển đổi từ sự dung tục sang sự linh thiêng về tiền bạc – một điều gì sâu sắc trong bản sắc của chúng ta, một điều gì đó rất trung tâm trong các công việc của thế giới – thực sự sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc. Nhưng điều đó có ý nghĩa gì với tiền, hay bất kì điều gì khác cho vấn đề đó, khi được coi là linh thiêng? Nó là một ý nghĩa quan trọng trái ngược với ý nghĩa của linh thiêng. Trong nhiều ngàn năm, ý niệm về sự linh thiêng, thánh thiện, thần thánh, đã ngày càng đề cập đến một cái gì đó tách biệt với thiên nhiên, thế giới và phàm tục.
Ba hay bốn ngàn năm trước các vị thần bắt đầu một cuộc di cư từ hồ, biển, sông và núi lên trời, trở thành chúa tể của thiên nhiên hơn là bản chất của nó. Khi thiên tính tách rời khỏi thiên nhiên, nó cũng trở nên vô nghĩa khi tham dự quá sâu sắc trong các vấn đề của thế giới (so also it became unholy to involve oneself too deeply in the affairs of the world). Con người thay đổi từ một linh hồn sống hiện thân sang vỏ bọc phàm tục của nó, một thùng đựng đơn thuần của linh hồn, đỉnh cao trong vi phần Đề-các (Cartesian) của ý thức quan sát thế giới nhưng không tham dự vào nó, và người kiến tạo theo trường phái Niu-tơn (Newtonian watchmaker) – Thượng đế cũng làm như vậy. Trở nên siêu nhiên là siêu nhiên, phi vật chất. Nếu Thượng đế tham gia vào thế giới, điều đó thông qua phép màu – sự can thiệp thần thánh vi phạm hoặc thay thế luật tự nhiên.

(còn tiếp)

The Alchemist – Nhà giả kim (p.14)

Phần II

Cậu đã làm việc cho người bán đồ pha lê được gần một tháng,và cậu có thể thấy đây không hẳn là công việc làm cho cậu thấy hạnh phúc. Người bán đồ pha lê dành nguyên ngày lẩm nhẩm sau quầy hàng và dặn cậu cẩn thận với từng món đồ, đừng làm vỡ cái gì cả.

Nhưng cậu ở lại với công việc vì người bán đồ pha lê. Dù ông ta là một ông già kì cục (old gouch), đã đối xử với cậu khá tốt; cậu nhận được hoa hồng tốt cho từng món đồ mà cậu bán được, và cậu cũng đã để dành được một ít tiền. Buổi sáng hôm đó cậu đang tính toán: nếu cậu tiếp tục làm việc hàng ngày như cậu đang làm, cậu sẽ mất cả năm để có thể mua được vài con cừu.

“Tôi muốn mua vài cái kệ trưng bày đồ pha lê.” Cậu nói với người chủ cửa hàng. “ Chúng ta có thể để nó ở ngoài, và thu hút được những người đi qua ở chân đồi.

“Ta chưa bao giờ có một cái kệ nào cả.”, ông chủ cửa hàng trả lời. “Mọi người đi ngang qua và va vào nó, các đồ pha lê sẽ bị vỡ.”

“Khi tôi mang lũ cừu qua các cánh đồng, một vài con có thể sẽ chết nếu chúng tôi gặp rắn. Nhưng đó là cuộc sống của cừu và người chăn cừu.”

Ông chủ cửa hàng quay sang người khách muốn mua ba tấm kính pha lê. Ông đang kinh doanh phát đạt hơn bao giờ hết, như thể thời hoàng kim lúc con đường này là một trong những điểm thu hút nhất ở Tangier.

“Việc kinh doanh thực sự có khá lên.”, ông nói với cậu, sau khi người khách đã đi. “Ta đang làm tốt hơn trước nhiều, và cậu sớm sẽ được trở về với lũ cừu. Vậy tại sao cậu lại đòi hỏi cuộc sống nhiều hơn nữa?”

“Bởi vì chúng ta phải đáp lại các dấu hiệu (điềm báo).”, cậu nói, gần như không có chủ ý; và cậu hối tiếc với điều cậu vừa nói, vì người chủ cửa hàng chưa bao giờ gặp vị vua.

“Điều này được gọi là nguyên tắc của sự ưa thích, may mắn của kẻ mới bắt đầu. Vì cuộc sống muốn cậu đạt được số mệnh của cậu”, vị vua già đã nói.

Nhưng ông chủ bán đồ pha lê hiểu những gì cậu vừa nói. Sự có mặt của cậu trong cửa hàng là một dấu hiệu, và với thời gian trôi qua, tiền đổ về nhiều hơn, ông ta không hối hận vì đã thuê cậu. Cậu đã bắt đầu được trả nhiều hơn mức cậu xứng đáng, vì người thương gia đã nghĩ rằng việc buôn bán không tốn nhiều (not clear idea), đã cho cậu mức hoa hồng cao hơn. Ông cho rằng cậu sẽ sớm trở về với lũ cừu.

“Tại sao cậu muốn đến kim tự tháp?” ông ta hỏi, để tránh bàn luận về việc trưng bày.

“Vì tôi đã luôn được nghe về chúng.”, cậu trả lời, không nói gì về giấc mơ của cậu. Kho báu bây giờ chẳng là gì cả ngoài kí ức đau buồn, và cậu tránh không nghĩ tới nó.

“Ta không biết ai quanh đây muốn băng qua sa mạc chỉ để đến xem Kim tự tháp.” ông chủ cửa hàng nói, “Chúng chỉ là một đống đá. Cậu có thể xây một cái ở sân sau nhà cậu.”

“Ông chưa bao giờ mơ tới việc đi chu du cả”, cậu nói, quay sang chờ một vị khách mới bước vào cửa hàng.

Hai ngày sau, người thương gia nói chuyện với cậu về việc trưng bày hàng.

“Ta không thích sự thay đổi lắm.”, ông ta nói, “Cậu và ta không giống như Hassan, người thương gia giàu có. Nếu ông ta mua nhầm thứ gì, điều đó chẳng ảnh hưởng lắm đến ông ta. Nhưng hai chúng ta phải sống với sai lầm của mình.”

Điều đó khá đúng, cậu nghĩ, “thật là buồn”.

“Tại sao cậu nghĩ chúng ta nên có quầy trưng bày?”

“Tôi muốn trở về với lũ cừu sớm hơn. Chúng ta phải tận dụng khi may mắn vẫn đang mỉm cười với chúng ta, làm càng nhiều để giúp nó giống như nó đang giúp chúng ta. Đó là nguyên tắc của favorability. Hoặc là sự may mắn của kẻ bắt đầu.”

Ông chủ cửa hàng im lặng một lúc. Rồi ông ta nói, “Nhà Tiên tri (prophet) đã đưa cho chúng ta quyển kinh Koran, và bỏ đi với chỉ 5 nghĩa vụ (obligation) để thỏa mãn trong suốt cuộc đời của chúng ta. Điều quan trọng nhất là chỉ tin tưởng vào một Đấng quyền năng thực sự. Những điều khác là cầu nguyện 5 lần một ngày, nhịn ăn trong tuần Ramadan và bố thí cho kẻ nghèo khó.”

Ông ta dừng ở đó. Mắt ông đẫm lệ khi ông nhắc đến Nhà tiên tri. Ông là một người mộ đạo và ngay cả với tất cả sự mất kiễn nhẫn của mình, ông muốn sống cuộc sống theo đúng luật đạo Hồi.

“Còn nghĩa vụ thứ 5 là gì?” cậu hỏi.

“Hai ngày trước cậu nói ta có bao giờ mơ ước được đi chu du,” người thương gia trả lời. “Nghĩa vụ thứ 5 của mỗi người Hồi giáo là hành hương. Chúng ta có nghĩa vụ, ít nhất một lần trong đời, phải đến thánh địa Mecca.

Mecca còn xa hơn chỗ kim tự tháp rất nhiều. Khi ta còn trẻ, tất cả những gì ta muốn là để dành đủ tiền để mở cửa hàng này. Ta nghĩ rằng một ngày nào đó ta sẽ trở nên giàu có, và ta có thể đến Mecca. Ta bắt đầu kiếm ra được ít tiền, nhưng ta chưa bao giờ để ai khác ngoài bản thân quản lý cửa hàng, vì những đồ pha lê này rất đáng giá. Cùng lúc đó, nhiều người đến cửa hàng của ta suốt ngày, họ hướng về Mecca. Một vài người là những người hành hương giàu có, đi du lịch với đoàn hộ tống có người hầu và lạc đà, nhưng hầu hết những người hành hương đều nghèo hơn ta.

Tất cả những người đi đến đó đều rất hạnh phúc khi thực hiện chuyến đi. Họ đặt biểu tượng hành hương trên cửa nhà họ. Một trong số họ, một người là thợ sửa giày, chuyên kiếm sống bằng nghề vá các đôi ủng, nói rằng anh ta đã đi chu du gần một năm qua sa mạc, nhưng anh ta thấy mệt mỏi hơn khi phải đi qua các con phố Tangier để mua da giày.

“Chà, vậy tại sao bây giờ ông không đi đến Mecca?” câu hỏi.

“Vì chính suy nghĩ đến Mecca khiến ta sống. Điều đó giúp ta đối diện với những ngày mà mọi ngày đều giống nhau, những mảnh pha lê im lặng này trên kệ, ăn trưa và tối ở cùng một quán dở tệ. Ta sợ rằng nếu giấc mơ của ta thành hiện thực, ta sẽ không còn lý do gì để tiếp tục sống.

Cậu mơ về lũ cừu và kim tự tháp, nhưng cậu khác ta, vì cậu muốn hiện thực hóa giấc mơ của mình. Ta chỉ muốn mơ về Mecca. Ta đã tưởng tượng hàng ngàn lần băng qua sa mạc, đến Điện Hòn đá Thiêng, ta đi quanh Hòn đá 7 lần trước khi ta cho phép mình chạm vào nó. Ta cũng đã tưởng tượng những người ở xung quanh ta, và trước mặt ta, và tất cả những câu chuyện, những sự cầu nguyện mà chúng ta cùng chia sẻ. Nhưng ta sợ rằng nó sẽ trở thành một sự thất vọng, vậy nên ta thấy tốt hơn là mơ về nó.

Ngày hôm đó, người thương gia cho phép cậu xây khu trưng bày. Không phải ai cũng thấy giấc mơ của mình thành hiện thực theo cùng một cách.

(còn tiếp)