(Chia sẻ) Hạnh phúc là một cú lừa — Nhà Thu

Bài này đọc rất ý nghĩa, cảm thấy không chia sẻ không được.

“Trống rỗng và hụt hẫng vì ngay cả khi mọi sự diễn ra hoàn toàn đúng ý, thậm chí có thể hơn, vẫn chẳng có gì ghê gớm vĩ đại xuất hiện. Ồ, như vậy nghĩa là sao nhỉ?”

Cầm trên tay tấm vé máy bay đến Paris hai tuần sau khi tốt nghiệp đại học, mình chắc mẩm nếu đâu đó trên mặt đất này tồn tại một bảng xếp hạng những người luôn được hưởng ưu ái, một kiểu công dân được ban phát đặc quyền, tên mình chắc hẳn chễm trệ […]

Hạnh phúc là một cú lừa — Nhà Thu

Sacred economics (13)

(Mình sẽ giữ cả tiếng Anh và Việt để mọi người cùng đối chiếu với mình. Nhờ các bạn góp ý giúp, đặc biệt là đoạn chữ màu xanh lá).

Tham lam có thể hiểu được trong hoàn cảnh thiếu thốn. Hệ tư tưởng thống trị chúng ta giả định rằng: nó được xây dựng trong Câu chuyện về Cái tôi của chúng ta. Cái tôi riêng biệt trong một vũ trụ bị chi phối bởi các thế lực thù địch hoặc lãnh đạm luôn ở bên bờ tuyệt chủng, và chỉ an toàn đến mức có thể kiểm soát các lực lượng này. Đúc thành một vũ trụ khách quan bên ngoài chính chúng ta, chúng ta phải cạnh tranh với nhau vì nguồn lực hạn chế.

Dựa vào câu chuyện Cái Tôi riêng biệt, lòng tham đã từ đó được viết vào tiên đề cơ bản cả trong sinh học và kinh tế học. Trong sinh học, gen tìm cách tối đa hóa lợi ích sinh sản; trong kinh tế, đó là nhân tố đang tìm cách tối đa hóa lợi ích tài chính. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu giả định về sự khan hiếm là sai – (nếu nó chỉ là) một phản chiếu về ý thức hệ của chúng ta, và không phải là thực tế cuối cùng? Nếu vậy, lòng tham không ở trong (bộ gen) sinh học của chúng ta mà chỉ đơn thuần là một triệu chứng của nhận thức về sự khan hiếm.

Based on the story of the separate self, both biology and economics have therefore written greed into their basic axioms. In biology it is the gene seeking to maximize reproductive self-interest; in economics it is the rational actor seeking to maximize financial self-interest. But what if the assumption of scarcity is false—a projection of our ideology, and not the ultimate reality? If so, then greed is not written into our biology but is a mere symptom of the perception of scarcity.

Một chỉ dấu rằng lòng tham phản ánh nhận thức hơn là thực tế của sự khan hiếm là những người giàu thường có vẻ ít rộng lượng hơn là người nghèo. Theo kinh nghiệm của tôi, những người nghèo thường cho mượn hay cho nhau những khoản nhỏ mà, tính theo tỉ lệ, sẽ tương đương một nửa giá trị của một người giàu. Nghiên cứu mở rộng đã khẳng định nhận định này. Một khảo sát lớn năm 2002 do Tổ chức Độc lập (Independent Sector), một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận, đã cho thấy người Mỹ kiếm ít hơn 25.000 đô là cho 4,2% thu nhập cho từ thiện, đối với 2,7% đối với người kiếm hơn 100.000 đô la. Gần đây hơn, Paul Piff, một nhà tâm lý học xã hội tại trường ĐH California-Berkeley, chỉ ra “những người có thu nhập ít hơn thường rộng lượng, từ thiện, tin tưởng và giúp đỡ người khác hơn là những người giàu có hơn”14 Piff đã phát hiện khi các chủ đề nghiên cứu cho tiền để một người chia ấn danh giữa họ và đối tác (người sẽ không bao giờ biết người kia là ai), sự hào phóng của họ sẽ tương quan nghịch với tình trạng kinh tế xã hội của họ.15

An indication that greed reflects the perception rather than the reality of scarcity is that rich people tend to be less generous than poor people. In my experience, poor people quite often lend or give each other small sums that, proportionally speaking, would be the equivalent of half a rich person’s net worth. Extensive research backs up this observation. A large 2002 survey by Independent Sector, a nonprofit research organization, found that Americans making less than $25,000 gave 4.2 percent of their income to charity, as opposed to 2.7 percent for people making over $100,000. More recently, Paul Piff, a social psychologist at University of California–Berkeley, found that “lower-income people were more generous, charitable, trusting and helpful to others than were those with more wealth.”14 Piff found that when research subjects were given money to anonymously distribute between themselves and a partner (who would never know their identity), their generosity correlated inversely to their socioeconomic status.15

Khi có thể kết luận từ nghiên cứu này rằng người tham lam sẽ trở nên giàu có, một diễn giải tương đồng là giàu có sẽ khiến con người tham lam. Tại sao lại thế? Trong hoàn cảnh giàu có, tham lam là ngớ ngẩn, chỉ có trong hoàn cảnh thiếu thốn thì nó mới hợp lý. Người giàu nhận thức về sự khan hiếm ở nơi không có (sự khan hiếm). Họ cũng thường lo lắng hơn người khác về vấn đề tiền bạc. Có thể là do bản thân tiền đã gây ra nhận thức về sự khan hiếm? Có thể nào là tiền bạc, gần như đồng nghĩa với sự an toàn, mỉa mai thay, đã mang đến điều ngược lại? Câu trả lời cho cả hai câu hỏi này là đúng vậy. Ở cấp độ cá nhân, người giàu có nhiều hơn để “đầu tư” tiền của họ và ít khả năng cho đi hơn. (Cho đi dễ dàng phản ánh thái độ của sự giàu có). Ở cấp độ hệ thống, như chúng ta sẽ thấy, sự khan hiếm cũng được xây dựng thành tiền, một kết quả trực tiếp của cách nó được sinh ra và lưu thông.

While it is tempting to conclude from this that greedy people become wealthy, an equally plausible interpretation is that wealth makes people greedy. Why would this be? In a context of abundance greed is silly; only in a context of scarcity is it rational. The wealthy perceive scarcity where there is none. They also worry more than anybody else about money. Could it be that money itself causes the perception of scarcity? Could it be that money, nearly synonymous with security, ironically brings the opposite? The answer to both these questions is yes. On the individual level, rich people have a lot more “invested” in their money and are less able to let go of it. (To let go easily reflects an attitude of abundance.) On the systemic level, as we shall see, scarcity is also built in to money, a direct result of the way it is created and circulated.

Việc coi khan hiếm là một trong hai tiền đề trung tâm của nền kinh tế (cái thứ hai là việc mọi người, một cách tự nhiên, tìm cách tối đa hóa lợi ích hợp lý của mình). Cả hai đều sai, hoặc chính xác hơn, chúng thực sự chỉ đúng trong một cõi hẹp, một cõi mà chúng ta là con ếch ở đáy giếng, nhầm lẫn về toàn bộ thực tại. Và thường là thế, những gì chúng ta coi là sự thật khách quan thực ra là một phản chiếu về tình trạng của chính chúng ta lên thế giới “khách quan”. Quá đắm chìm trong sự khan hiếm là chúng ta, điều mà chúng ta coi đó là bản chất của thực tế. Nhưng trên thực tế, chúng ta sống trong một thế giới phong phú. Sự khan hiếm ở khắp nơi mà chúng ta trải nghiệm là một vật nhân tạo: của hệ thống tiền bạc, về chính trị và nhận thức của chúng ta.

The assumption of scarcity is one of the two central axioms of economics. (The second is that people naturally seek to maximize their rational self-interest.) Both are false; or, more precisely, they are true only within a narrow realm, a realm that we, the frog at the bottom of the well, mistake for the whole of reality. As is so often the case, what we take to be objective truth is actually a projection of our own condition onto the “objective” world. So immersed in scarcity are we that we take it to be the nature of reality. But in fact, we live in a world of abundance. The omnipresent scarcity we experience is an artifact: of our money system, of our politics, and of our perceptions.

Như chúng ta sẽ thấy, hệ thống tiền bạc, hệ thống sở hữu và hệ thống kinh tế chung của chúng ta phản ánh cùng cảm nhận cơ bản về cái tôi, được xây đắp lên từ nhận thức của sự khan hiếm. Đây là “cái tôi rời rạc và tách biệt”, cái tôi Tâm trí (Cartesian self): một bòng bong tâm lý bị vùi dập trong một vũ trụ lãnh đạm, tìm cách sở hữu, kiểm soát, kiêu ngạo càng nhiều tài sản càng tốt, nhưng bị tố cáo trước thất bại do điểm giới hạn cuối cùng từ sự giàu có của bản thể kết nối với kinh nghiệm không bao giờ đủ đầy. Sự khẳng định rằng chúng ta sống trong một thế giới phong phú đôi khi gây ra một phản ứng cảm xúc, gần với sự thù địch, với những độc giả tin rằng con người cùng chung sống hài hòa với phần còn lại của cuộc sống là không thể nếu không giảm một lượng lớn dân số. Họ trích dẫn “Đỉnh dầu” và sự cạn kiệt tài nguyên, sự nóng lên toàn cầu, sự cạn kiệt của đất nông nghiệp và dấu chân sinh thái của chúng ta là bằng chứng cho thấy trái đất không thể hỗ trợ nền văn minh công nghiệp ở mức độ dân số hiện nay.

As we shall see, our money system, system of ownership, and general economic system reflect the same fundamental sense of self that has, built into it, the perception of scarcity. It is the “discrete and separate self,” the Cartesian self: a bubble of psychology marooned in an indifferent universe, seeking to own, to control, to arrogate as much wealth to itself as possible, but foredoomed by its very cutoff from the richness of connected beingness to the experience of never having enough. The assertion that we live in a world of abundance sometimes provokes an emotional reaction, bordering on hostility, in those of my readers who believe that harmonious human coexistence with the rest of life is impossible without a massive reduction in population. They cite Peak Oil and resource depletion, global warming, the exhaustion of our farmland, and our ecological footprint as evidence that the earth cannot long support industrial civilization at present population levels.

Cuốn sách này cung cấp phản hồi cho sự lo ngại trên như là một phần viễn cảnh của nền kinh tế linh thiêng. Quan trọng hơn, nó còn chỉ ra các câu hỏi “làm thế nào” – ví dụ: làm thế nào để chúng ta có thể đạt được điều đó từ vị trí hiện tại. Bây giờ tôi sẽ đưa ra một phần hồi đáp, một lý do để hy vọng. Đúng là hoạt động của con người ngày nay đang làm quá tải mức chịu đựng của trái đất. Nhiên liệu hóa thạch, tầng nước ngầm, lớp đất mặt, khả năng hấp thụ ô nhiễm và các hệ sinh thái duy trì khả năng tồn tại của bầu sinh quyển đều bị cạn kiệt ở mức báo động. Tất cả các đo lường đặt trên bàn quá nhỏ bé, quá trễ – chỉ là giọt nước trong xô so với những gì cần thiết. Mặt khác, một tỷ lệ khổng lồ của hoạt động này của con người là thừa thãi hoặc có hại cho hạnh phúc của con người.

This book offers a response to this concern as part of a vision of a sacred economy. More importantly, it addresses the “how” questions as well—for example, how we will get to there from here. For now I will offer a partial response, a reason for hope. It is true that human activity is vastly overburdening the earth today. Fossil fuels, aquifers, topsoil, the capacity to absorb pollution, and the ecosystems that maintain the viability of the biosphere are all being depleted at an alarming rate. All the measures on the table are far too little, far too late—a drop in the bucket compared to what is needed. On the other hand, an enormous proportion of this human activity is either superfluous or deleterious to human happiness. 

Trước tiên hãy xem xét ngành công nghiệp vũ khí và tài nguyên tiêu thụ trong chiến tranh: khoảng 2 nghìn tỷ đô la mỗi năm, một cơ sở khoa học rộng lớn và năng lượng sống của hàng triệu người trẻ, tất cả để phục vụ không cần ngoại trừ một thứ chúng ta tự tạo ra. Xem xét nền công nghiệp nhà đất (không phải bất động sản – ND) tại đây trên đất Mỹ, với lượng khổng lồ những căn nhà McMansions trong 2 thập kỷ qua một lần nữa không thực sự phục vụ cho nhu cầu của con người. Tại một số quốc gia, một tòa nhà với kích thước đó có thể chứa được 50 người. Như thực tế, các căn phòng rộng lớn không được sử dụng, làm con người cảm thấy không thoải mái với mức độ rộng lớn quá mức cho con người và đành tìm kiếm sự thoải mái trong góc nhỏ và chỗ ăn uống ấm cúng. Các vật liệu, năng lượng và việc bảo trì các quái vật như vậy thật lãng phí tài nguyên. Có lẽ còn lãng phí hơn nữa là cách bố trí vùng ngoại ô, điều làm cho giao thông công cộng khó khăn và khiến lượng lái xe không phù hợp.

Consider first the armaments industry and the resources consumed in war: some $2 trillion dollars a year, a vast scientific establishment, and the life energy of millions of young people, all to serve no need except one we create ourselves. Consider the housing industry here in the United States, with the enormous McMansions of the last two decades that again serve no real human need. In some countries a building that size would house fifty people. As it is, the cavernous living rooms go unused, for people feel uncomfortable in their inhuman scale and seek out the comfort of the small den and the breakfast nook. The materials, energy, and maintenance of such monstrosities are a waste of resources. Perhaps even more wasteful is the layout of suburbia, which makes public transportation impossible and necessitates inordinate amounts of driving.

Xem xét ngành công nghiệp thực phẩm, lượng bỏ phí rất lớn ở bất kỳ cấp độ nào. Theo một nghiên cứu của chính phủ (Hoa Kỳ – ND), thất thoát từ trang trại-đến-bán lẻ vào khoảng 4 phần trăm, bán lẻ-đến-người tiêu dùng thất thoát 12 phần trăm, và thất thoát tại nơi người tiêu dùng là 29 phần trăm.16 Hơn thế nữa, lượng lớn đất nông nghiệp được dành cho sản xuất nhiên liệu sinh học, và nông nghiệp cơ giới hóa giới hạn công sức lao động thâm canh và các kỹ thuật sản xuất thâm canh khác có thể làm tăng năng suất rất lớn.17
Consider the food industry, which exhibits massive waste at every level. According to a government study, farm-to-retail losses are about 4 percent, retail-to-consumer losses 12 percent, and consumer-level losses 29 percent. 16 Moreover, vast tracts of farmland are devoted to biofuel production, and mechanized agriculture precludes labor-intensive intercropping and other intensive production techniques that could vastly increase productivity.17

14 Warner, “The Charitable-Giving Divide.”

15 Piff et al., “Having Less, Giving More.”

16 Buzby et al., “Supermarket Loss Estimates.”

17 Bạn có thể hiểu thêm về tiềm năng nông nghiệp chưa được khai thác bằng cách đọc cuốn sách hấp dẫn (xuất bản) năm 1911 của F. H. King, cuốn sách” Nông dân của bốn mươi thế kỷ”; hoặc, “Nông nghiệp Dài lâu ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản”, chúng giải thích làm thế nào các khu vực này duy trì dân số khổng lồ trong nhiều thiên niên kỷ trên một lượng đất nhỏ, không có cơ giới hóa, thuốc trừ sâu hoặc phân bón hóa học. Thay vào đó, họ dựa vào luân canh cây trồng, trồng xen và các mối quan hệ sinh thái giữa các cây trồng, động vật và con người. Họ không lãng phí gì, kể cả phân người. Nông nghiệp của họ cực kỳ tốn nhiều công sức, mặc dù, theo King, nó thường được tiến hành với tốc độ nhàn nhã. Năm 1907, năm mươi triệu người Nhật Bản gần như tự túc về thực phẩm; đất của Trung Quốc củng cố (điều này), ở một số vùng, các nhóm gồm bốn mươi hoặc năm mươi người trong một trang trại rộng ba mẫu; vào năm 1790, dân số Trung Quốc đã tương đương với dân số Hoa Kỳ ngày nay!
You can get some idea of the untapped potential of agriculture by reading F. H. King’s fascinating 1911 book, Farmers of Forty Centuries; Or, Permanent Agriculture in China, Korea, and Japan, which explains how these regions sustained enormous populations for millennia on tiny amounts of land, without mechanization, pesticides, or chemical fertilizers. Instead, they relied on sophisticated crop rotation, interplanting, and ecological relationships among farm plants, animals, and people. They wasted nothing, including human manure. Their farming was extremely labor-intensive, although, according to King, it was usually conducted at a leisurely pace. In 1907 Japan’s fifty million people were nearly self-sufficient in food; China’s land supported, in some regions, clans of forty or fifty people on a three-acre farm; in the year 1790 China’s population was about the same as that of the United States today!

Day 9 – Sacred Economics (9)

Những đồ vật vô dụng như vỏ ốc, chuỗi hạt xinh xắn, dây chuyền, và vân vân là những (đồng) tiền sớm nhất. Trao đổi chúng với một cái gì đó có giá trị thực dụng, nói một cách ngây thơ, chỉ là một cách để tặng quà, vì trong trao đổi đó có một bên được còn bên kia mất. Người ta cố làm nó cân bằng hơn, ai cũng mất và ai cũng được một thứ gì đó, nhưng điều này không khác việc tặng quà là bao. Bởi vì những thứ được đem ra trao đổi chỉ là hình thức của sự ràng buộc, một biểu hiện của sự biết ơn lẫn nhau. (bản dịch của Norah – cảm ơn bạn). Từ quan điểm này, bản sắc của mua và bán, vay mượn và cho vay mượn, là dễ hiểu. Chúng hoàn toàn không phải là các vận hành đối lập. Tất cả các món quà luân chuyển trở lại cho người tặng trong một hình thức khác. Người mua và người bán đều bình đẳng.

Ngày nay có sự bất cân xứng trong các giao dịch thương mại, trong đó xác định người mua là người đưa tiền và nhận hàng và người bán là người nhận tiền và đưa hàng. Nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng “người mua” là người bán tiền đang bán tiền và “người bán” là người đang mua tiền với hàng hóa. Bằng chứng ngôn ngữ học và nhân học chỉ ra rằng sự bất cân xứng này là mới, mới hơn nhiều so với tiền. Điều gì đã xảy ra với tiền, sau đó, để tạo ra sự bất cân xứng này? Tiền khác với mọi hàng hóa khác trên thế giới, và, như chúng ta sẽ thấy, chính sự khác biệt này rất quan trọng trong việc biến nó thành dung tục.

Mặt khác, bằng trực giác chúng ta nhận ra quà tặng là thiêng liêng, đó là lý do tại sao ngay cả ngày nay chúng ta vẫn làm lễ tặng quà. Quà tặng thể hiện những phẩm chất quan trọng của sự linh thiêng mà tôi đã thảo luận trong phần giới thiệu. Thứ nhất, tính độc đáo: không giống như các mặt hàng được tiêu chuẩn hóa ngày nay, mua bán trong các giao dịch đóng bằng tiền và xa lánh nguồn gốc của chúng, quà tặng là duy nhất theo phạm vi  chúng có phần tham gia của người tặng. Thứ hai, sự toàn vẹn, phụ thuộc lẫn nhau: quà tặng mở rộng vòng tròn của bản thân để bao gồm toàn bộ cộng đồng. Trong khi tiền ngày nay là hiện thân của nguyên tắc “Nhiều hơn đối với tôi là ít hơn đối với bạn”, trong một nền kinh tế quà tặng, nhiều hơn với bạn cũng nhiều hơn đối với tôi bởi vì những người đã cho những người cần. Quà tặng củng cố sự nhận thức thần bí về sự tham gia vào một điều gì đó lớn hơn chính bản thân họ, tuy nhiên, không tách rời khỏi chính mình. Các tiên đề của sự thay đổi lợi ích hợp lý bởi vì bản thân đã mở rộng để bao gồm cái gì đó của cái khác.

Giải thích thông thường về cách tiền phát triển mà người ta tìm thấy trong các văn bản kinh tế giả định việc đổi chác là điểm khởi đầu. Ngay từ đầu, các cá nhân cạnh tranh tìm cách tối đa hóa lợi ích cá nhân hợp lý của họ. Mô tả lý tưởng hóa này không được hỗ trợ bởi nhân học. Trao đổi, theo Mauss, là hiếm ở Polynesia, hiếm ở Melanesia, và chưa từng thấy ở Tây Bắc Thái Bình Dương. Nhà nhân học kinh tế George Dalton đồng tình một cách dứt khoát, “Trao đổi, theo nghĩa chặt chẽ của trao đổi không tiền, chưa bao giờ là mô hình hay giao dịch quan trọng về mặt định lượng trong bất kỳ hệ thống kinh tế nào trong quá khứ hay hiện tại mà chúng ta có thông tin vật lý (hard information).8 Các trường hợp duy nhất của hàng đổi hàng, theo Dalton, là cho các giao dịch nhỏ, không thường xuyên hoặc khẩn cấp, giống như trường hợp ngày nay. Bên cạnh đó, các giao dịch đơn thuần hiếm khi giống với các giao dịch không chính đáng, tối đa hóa tiện ích của các nhà kinh tế giả tưởng, nhưng thay vào đó, “xu hướng yêu cầu các mối quan hệ cá nhân lâu dài (và đôi khi được nghi thức hóa) bị trừng phạt bởi tùy chỉnh và đặc trưng bởi tính tương hỗ.” 9 Các giao dịch như vậy không nên được gọi là trao đổi, mà là trao đổi quà tặng theo nghi thức.

8 Dalton, “Barter,” (Trao đổi), trang 182.

9 Seaford, Money and the Early Greek Mind (Tiền và Đầu óc người Hy Lạp thời đầu), trang 292.

P.s: đúng ra hôm nay phải post phần 10, nhưng mà luxubu chưa dịch. 😐

Day 7: Sacred Economics (7)

Chuyện phụ nữ

Nhưng bạn nam nào tò mò ghé đọc cũng chả sao.

Chuyện về BVS – Bơ và Sữa, Bánh và Sữa, hay nói trắng ra là băng vệ sinh. Vâng, chính là em nó.

Hồi còn nhỏ, mình cũng dùng loại vải, kiểu như mấy cái khăn vải màn lau cho em bé bây giờ ấy. Dùng rất cực, vì nó không cố định, nên sự cố xảy ra là chuyện bình thường. Chưa kể những ngày nhiều và trời mưa thì thôi rồi, có khi (và may là có quạt) để hong cho nó hơi khô khô tí để dùng tiếp. Còn giặt thì miễn bàn nhỉ.

Rồi mình thực cũng chẳng nhớ bắt đầu xài loại tiện dụng hồi nào nữa. Lúc đầu thì nhớ đi học cấp 2, cô gọi mấy đứa con gái trong lớp ra cho xem phim riêng rồi gửi quà của nhà tài trợ (hồi đó là Whisper – mắc kinh khủng, giờ vẫn còn mắc) cho để dùng thử. Nhưng đó có phải là nguyên do mình từ từ dùng BVS tiện lợi không thì không nhớ, nhưng đúng là sau này có nó rồi thì mọi thứ khá tiện, nhất là vụ giặt và phơi.

Bẵng đi một thời gian, giờ già rồi, quan tâm nhiều đến mọi thứ xung quanh hơn, và nhận ra một thứ phải thay đổi, chính là bvs tiện lợi. Thử tính mỗi ngày dùng ít nhất là 3-4 cái, một bịch có 8-10 cái dùng được 2 ngày là hết, mỗi lần như vậy, giục cả hơn chục đống bvs không thể phân hủy được – còn nhiều hơn cả bao ni lông, vì bao ni lông dù sao nó cũng nhỏ. Một năm có 12 tháng, vị chi xả cả mấy trăm cái đồ không tiêu hủy và còn đầy vi sinh vật kể cả tốt lẫn xấu trong đó trong 1 năm, thật là khủng khiếp!!!

Vậy có cách nào xử lý vấn đề này lại đây?

Chắc mọi người có thể nghe đâu đó về cốc nguyệt san. Thực sự mình ủng hộ việc sử dụng cái cốc này lắm. Tiện mang theo người, lại còn chùi rửa được, cũng không phức tạp gì lắm, một cái cốc cũng dùng được bao nhiêu lâu. Chưa kể là nếu là kẻ thích đi và hay đi thì nó là thứ gọn nhẹ nhất và cũng dễ xử lý nhất nếu bạn đang đi và ngày đó đến. Chưa kể việc có nó thì việc đi bơi lội – nếu bạn thích bơi lội hoặc và đi du lịch biển, cũng chả là vấn đề gì cả. Mình có một chị bạn dùng cái này từ lâu, và chị đã tốn công tới 3-4 lần gửi đi gửi lại cho mình một cái cốc, chỉ vì tất cả các công dụng trên của nó, cũng như chị biết mình hay đi như thế nào, và cũng vì chị cũng là fan của việc bảo vệ môi trường – mình có cảm giác chị ấy đã từng là hippie thứ thiệt.

Tuy nhiên, nói thật là với bằng đó ưu điểm và ngay cả khi rất thích dùng, đôi khi cốc nguyệt san lại không phải là sự lựa chọn hàng đầu. Đơn giản là vì có một số người có thể dị ứng (không nhiều nhưng có), một số người thì ngại vì nghe đồn nó … làm rách màng trinh (nói gì thì nói, với người Việt thì có vẻ vụ này vẫn còn quan trọng) – cái này mình cũng không biết là có xảy ra hay không, dù nguy cơ thì cũng có một chút. Với quan điểm này thì mình hiểu, nhưng mình nghĩ (nói và nghĩ vẫn dễ hơn làm), nếu một người đàn ông thực sự yêu quý người phụ nữ thì sau khi biết được chuyện “hy sinh” đó, sẽ càng yêu người phụ nữ hơn là trách mắng họ chứ nhỉ? Dù sao mình cũng hiểu, thay đổi suy nghĩ đã có từ lâu đời không phải là ngày một ngày hai. Trong trường hợp đó, chắc chỉ ủng hộ các bạn ấy lấy chồng xong hãy chuyển sang dùng cốc vậy.

Nói vậy chứ cuối cùng giải pháp của mình cũng vẫn không phải là cốc, chỉ vì 1 lý do củ chuối, và mình lại quay về với vải. Kể ra cũng phiền, vì vải vẫn gặp phải vấn đề như ngày xưa, về chuyện giặt giũ, về chuyện trời mưa và hong cho khô, v.v. Nhưng thực sự là bây giờ nó là giải pháp tốt nhất với mình. BVS vải giờ cũng tốt hơn xưa nhiều vì đã có loại cố định, và thậm chí là ai khéo tay thì có thể may (mình nghĩ may là tốt hơn cả, tiếc là mình không khéo tay về may vá), gọn nhẹ hơn trước. Trên tiki cũng có bán, loại Tiki bán mình thấy ổn, cũng có nhiều kích cỡ cho bạn lựa chọn. (Link tham khảo ở đây) Không thì có thể ghé Organik House nếu ai ở SG. Nhưng đồ ở Organik House thực sự giá cả hơi bị chát với một đứa thất nghiệp dài hạn như mình. Còn chất lượng thì không dùng nên không có ý kiến, nhưng chắc phải ghé một lần, vì Organik House có nhiều thứ có vẻ hay ho và bảo vệ môi trường khác.

Viết nhiều, hơi nhảm và cũng không được thuyết phục cho lắm, nhưng mình thực sự hy vọng các bạn gái nếu được thì thử cân nhắc việc dùng cốc nguyệt san (nên là ưu tiên 1) hay BVS vải thử đi. Ít ra là để bảo vệ mình đã, vì cái đồ quỷ đó nếu hút quá tốt (đang nói loại tiện lợi) thì cũng đầy hóa chất, ngấm vô theo đường đó là một con đường dễ vô các bộ phận nhạy cảm và ảnh hưởng về sau lắm á. À, tất nhiên mọi thứ đều có rủi ro. Dùng vải hay cốc mà không vệ sinh, phơi nắng hay làm sạch thì cũng sẽ gây bệnh mà thôi. Nhưng mà mọi người ạ, thử cân nhắc xem sao nhé.

“Làm thế nào để có chánh niệm và chánh niệm liên tục trong sinh hoạt hàng ngày?”

https://tuniemxu.one/lam-the-nao-de-co-chanh-niem-va-chanh-niem-lien-tuc-trong-sinh-hoat-hang-ngay/

“Việc hành thiền Tứ Niệm Xứ (thiền Tuệ) không phải trói tâm vào đề mục CHÍNH như thiền Định mà là quan sát bất cứ cái gì xảy ra (cái ĐANG LÀ) khi tâm quan sát đề mục CHÍNH. Cái xảy ra bao gồm phóng tâm, buồn ngủ, khó chịu (sân), ham muốn (tham), nghi ngờ việc thực hành (hoài nghi),….Những cảnh này gọi là đề mục phụ. Như vậy việc hành thiền Tứ Niệm Xứ sẽ có vô số đề mục phụ sinh lên. Nếu biết rõ các đề mục phụ bất kể khi nào nó sinh lên hay mất đi thì cũng là Chánh Niệm. Sự quan sát LIÊN TỤC các đề mục CHÍNH và PHỤ trong Tứ Niệm Xứ như vậy được gọi là Chánh Niệm Liên Tục. Thực hành Chánh Niệm chính là thực hành thiền Tứ Niệm Xứ.”

Bài viết sưu tập: Tủ lạnh không “hại điện”

Bài lấy từ bản dịch của Ban Mai Hồng, nhưng tiếng Anh thì nhiều nguồn, tạm dẫn:

https://news.nationalgeographic.com/2016/12/mohammed-bah-abba-explorer-moments-cooling-technology-helping-Africans/

Bảo quản đồ ăn tươi ngon tới 27 ngày, hiện đại mà không “hại điện”, đó chính là những lợi ích tuyệt vời mà chiếc “tủ lạnh” đặc biệt được sáng chế bởi một giáo viên người Nigeria mang lại cho cuộc sống của người dân nghèo nơi đây. 

 Kì lạ chiếc
Công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh.
Những sáng chế đơn giản nhưng mang đến hiệu quả đến khó tin, lại không tốn quá nhiều chi phí chính là những thứ mà người dân nghèo vùng nông thôn Châu Phi vẫn luôn “mơ” đến. Ngay cả trong cuộc sống hiện đại ngày nay, thiết bị điện cơ bản như chiếc tủ lạnh cũng trở thành thứ vô cùng “xa xỉ” đối với người dân nơi đây do điều kiện địa hình xa xôi hẻo lánh và chi phí cho việc sử dụng điện quá đắt đỏ.
May mắn đã đến với người dân nghèo Nigeria khi một công cụ giữ lạnh đặc biệt có tác dụng bảo quản thực phẩm không thua kém gì tủ lạnh được sáng chế bởi ông Mohammed Bah Abba, một giáo viên người Nigeria.
Chiếc tủ lạnh “có một không hai” này không cần cắm điện, không tốn nhiều chi phí, thậm chí còn có thể “cầm tay”, mà lại đặc biệt hiệu quả trong điều kiện thời tiết nóng khô dễ khiến trái cây, rau quả và các thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng, ôi thiu khi bảo quản được đồ ăn tới gần một tháng.
Kì lạ chiếc
Ông Mohammed Bah Abba, người sáng chế ra hệ thống làm lạnh đặc biệt thay đổi cuộc sống người dân nghèo Nigeria.
 

 

Mohammed Bah Abba sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm đồ gốm và đất sét. Là một người con của Nigeria, hiểu rõ được hậu quả của thời tiết khắc nghiệt nắng như thiêu đốt ở châu Phi, cũng như ước mong của người dân nghèo, cuối những năm 90, ông Mohammed đã tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt áp dụng công nghệ làm gốm truyền thống.
Kì lạ chiếc
Chiếc “tủ lạnh” này không cần cắm điện, bảo quản được đồ ăn lâu gấp 9 lần điều kiện bình thường.
 
Dựa trên ý tưởng cổ xưa của chiếc bình gốm giữ nước lạnh, ông Mohammed đã chế tạo ra chiếc “tủ lạnh” đặc biệt với cơ chế “bình trong bình”. Hai chiếc bình gốm to và nhỏ được lồng vào nhau, trong chiếc bình to hay khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để lưu trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.
Kì lạ chiếc
Cấu tạo của chiếc “tủ lạnh” gồm hai chiếc bình gốm to nhỏ được lồng vào nhau, khoảng trống giữa hai bình sẽ được đổ đầy cát ướt, còn bình gốm nhỏ sẽ dùng để trữ thực phẩm và đậy lại bằng một tấm vải ướt.

 

Để hai chiếc bình hoạt động hiệu quả như một chiếc tủ lạnh, cần phải đặt chúng ở nơi khô ráo, thoáng mát. Khi đó nước trong cát đã được đổ vào từ ban đầu sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.
Kì lạ chiếc
Nước trong cát ướt sẽ bốc hơi, nồi trong được làm mát chỉ còn 4 độ C, ngăn không cho vi khuẩn phát triển và giữ thực phẩm tươi ngon.

 

Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed là một minh chứng cho sáng chế “hiện đại nhưng không hại điện” khi có giá rẻ đến giật mình. Chỉ phải bỏ ra 20 đến 90 nghìn đồng (từ 2 đến 4 đô la) cho mỗi chiếc, không hề sử dụng đến điện và có thể bảo quản thực phẩm từ thịt cá, rau củ, cho đến trái cây tới 27 ngày, gấp 9 lần so với 3 ngày ở nhiệt độ bình thường.
Kì lạ chiếc
Có thể nói, chiếc “tủ lạnh” đặc biệt này của ông Mohammed giúp người dân dự trữ thực phẩm tới 27 ngày.
 
Hệ thống “bình trong bình” hiệu quả này thực sự đã thay đổi cuộc sống của người dân nghèo Nigeria, khả năng lưu giữ thực phẩm được lâu và tươi ngon lâu hơn giúp họ bán nông sản cũng được giá cao hơn. Từ khi có những chiếc bình này, người dân nơi đây sẽ không cần ngày nào cũng phải đi chợ mua thực phẩm nữa, vô cùng tiện lợi mà còn tiết kiệm được rất nhiều thời gian.
Trước khi mất vào năm 2010, ông Abba liên tục cải tiến hệ thống bình trữ lạnh, sau đó ông sử dụng tiền của chính mình thuê các nhà máy địa phương sản xuất hàng loạt 5.000 “tủ lạnh” phân phối cho 5 ngôi làng ở Jigawa và 7.000 chiếc “tủ lạnh” cho người dân địa phương Nigeria.
Kì lạ chiếc
Những chiếc tủ lạnh được tạo ra bởi người giáo viên Nigeria này đã giúp cải thiện đáng kể đời sống người dân nơi đây, giúp họ bán nông sản được giá cao hơn, tiết kiệm nhiều chi phí.
 
Cho tới nay những chiếc tủ lạnh “siêu tiết kiệm” này đã được sử dụng rộng rãi tại các vùng nông thôn ở Nigeria, Cameroon, Chad, Eritrea, và Sudan. Năm 2000, Mohammed Bah Abba được trao giải thưởng Rolex Award for Enterprise dành cho các sáng chế xuất sắc được vinh danh. Tạp chí Time đã từng gọi phát minh bình làm lạnh mang tính đột phá của Mohammed là một trong những phát minh vĩ đại của năm.
P.s: Tham khảo thêm thông tin về người phát minh: https://en.wikipedia.org/wiki/Mohammed_Bah_Abba